Trong làng Ngài (H.T Tuyên Hoá) có một người đàn bà tên Viên Mộ Hàng nổi danh hung ác, ngang ngược.
Thường ngày đánh mắng chồng, vô lễ với cha mẹ chồng, không thuận với chị em dâu.
Đối với thân bằng quyến thuộc, bà con láng giềng thì cộc cằn thô lỗ.
Bà ta coi thường và hủy báng quỷ thần lại càng không tin nhân quả;
Nói chung bà ta đã không làm một việc lành nào, còn bao nhiêu điều xấu thì bà đều có phần.
Thế nên mọi người trong làng đều gọi bà là ”Lão Cọp Cái”.
Nghe danh Ngài, vì hiếu kỳ bà ta muốn đi tìm hiểu nên ngày nọ, bà cùng những người khác đến lều thủ hiếu.
Thấy Ngài đang ngồi kiết già chắp tay, mặt quay về hướng tây, và niệm Nam Mô A Di Đà Phật không dứt.
Vì không biết Ngài làm thế với mục đích gì, nên bà hỏi:
- Thầy đang làm gì vậy?
-Mẹ tôi đã làm lụng vất vả để nuôi dưỡng tôi, cho nên tôi muốn báo đáp ân đức sanh thành dưỡng dục bằng cách niệm Phật để cầu cho mẹ được siêu thoát,
hy vọng mẹ tôi sẽ sớm vãng sanh về thế giới Tây Phương Cực Lạc.
Đây cũng là đạo căn bản làm người.
Bà vốn không tin Trời Đất, nghe Ngài nói thế lại càng thêm nghi mà hỏi rằng:
- Có phải sau khi chết, con người thật biến thành quỷ không?
- Sao chỉ nói người chết rồi mới thành quỷ? Có người lúc còn sống, tâm chứa toàn tâm quỷ.
Nói lời quỷ, làm việc quỷ, vậy có khác gì với ma quỷ đâu?
Người thường sân hận tức là quỷ mặt đỏ,
Người thường oán hờn tức quỷ mặt vàng,
Người hay buồn não tức quỷ mặt trắng,
Người dễ nóng giận tức quỷ mặt xanh,
Người thường phiền muộn tức quỷ mặt đen.
Nếu dùng sân, oán, não, nộ, phiền mà đối đãi với người thì là năm loài quỷ trên, sẽ luôn quấy phá gia đình,
Trong nhà tuyệt đối không an, lại tổn tài hao khí, tai hoạn xảy đến liên miên.
Ngài lại dạy:
-Tâm là thần; thần cũng là tâm.
-
Nếu bà làm chuyện chi cũng khởi từ lương tâm, tức là trọng kính đối với thần,
nếu bội ngược lương tâm thì cũng như là khi dối thần.
Sau khi chết chắc chắn sẽ bị đọa vào địa ngục, chịu bao thứ khổ.
Khi ấy muốn thoát khổ, e rằng không còn kịp nữa.
Nhân vì chúng sanh đã quay lưng với sự giác ngộ, hợp với trần lao, mê chân theo vọng, xa rời bổn tánh của mình, tìm cầu vật chất ảo huyền ở thế gian,
nên phải tự thọ lãnh quả báo.
Nếu biết xoay chuyển lại, bỏ trần hiệp giác, xã vọng qui chân, thì đồng Phật không khác, mãi mãi thoát ly lục đạo luân hồi, chấm dứt sanh tử.
Bà nghe xong chợt nhớ lại bao tội ác của mình xưa kia, nên run động, khinh hoàng sợ hãi, khóc lên rằng:
- Lúc trước con không hiểu đạo lý làm người, lại không tin báo ứng nhân qủa nên đã gây biết bao nhiêu tội.
Nay nhờ Thầy từ bi chỉ dạy, mới biết tội mình quá ư thâm trọng,
con nay thật ăn năn hối hận, nhưng e không còn kịp để hối lỗi.
Vậy con phải làm sao đây?
-Bà đã nhận rõ những việc sai quấy lúc trước là dấu hiệu cho thấy rằng thiện căn phát khởi, mầm thiện căn này sẽ đâm chồi nảy nở.
Bà nên thường sám hối tội lỗi chớ quá bi thương;
vả lại là người, chớ nào phải Thánh Hiền, ai mà không có tội lỗi?
Tội ác của Bà dầu thâm trọng nhưng nếu bà thành tâm sám hối, thì những tội nặng sẽ được tiêu trừ,
Điều cần thiết là phải chí thành sám hối,
Bà hãy quán xét hành động trong quá khứ y như bà đã chết hôm qua và sanh trở lại ngày hôm nay.
Sau khi thành tâm sám hối, bà phải nên phát nguyện làm trọn bổn phận của người cư sĩ, gắng sức hoằng dương Phật Pháp, khuyên người làm lành, Quy y Tam Bảo.
Khi công đức của bà được viên mãn, thì những tội lỗi xưa tất sẽ tiêu tan.
Tại sao? Vì khi người đại ác biết xoay đầu cải thiện thì thành người đại thiện;
Còn ngược lại người đại thiện tạo tội, lần lần cũng sẽ thành người đại ác.
Nghe thế tâm bà vui mừng khôn xiết, đứng dậy hướng Ngài lạy ba lạy, cầu thỉnh Quy y, chánh thức thành đệ tử của Ngài.
Sau khi Quy y Tam Bảo, không những sửa đổi tâm tánh mà còn tự thân đi khắp nơi chỉ dạy người đời làm lành bỏ ác;
Hơn tám trăm người được bà cảm hóa đến quy y Ngài.
Khi ấy thân bằng quyến thuộc trong làng thấy bà thay đổi tâm tánh hoàn toàn nên rất kinh ngạc, xem bà như một con người mới,
Do đó biệt hiệu Lão Cọp Cái tự nhiên không còn nhắc mà đổi lại gọi bà là “Quán Âm tiếp dẫn.”
Bà ăn chay niệm Phật, khuyến hóa người đời trong mười năm, ngày nào cũng như nào.
Vào hạ tuần tháng tám năm Dân Quốc thứ ba mươi ba, bà biết trước được ngày vãng sanh nên bảo người nhà:
-Tôi xưa vốn tạo bao ác nghiệp, nhưng sau khi Quy y Tam Bảo, sửa đổi tâm tánh hướng thiện, cùng khuyến hóa người do công đức đó tôi nay biết được rằng 19 tháng 9 là ngày tôi sẽ vãng sanh Tịnh Độ.
Xin các vị chớ nên buồn bã khóc lóc mà nhớ niệm Phật giúp tôi!
Quả nhiên đến ngày ấy bà tắm gội sạch sẽ, mặc chỉnh tề chấp tay mĩm cười niệm Phật mà vãng sanh, hưởng thọ sáu mươi chín tuổi.
...
Trang Pháp Âm HT Tuyên Hóa
Showing posts with label Giai Thoại. Show all posts
Showing posts with label Giai Thoại. Show all posts
Sunday, 13 June 2010
Rắn lại nghe pháp
Chú dẫn :
Ngày chủ nhật, 20 tháng 6 năm 1982, đúng lúc cử hành Pháp diên, bốn chúng đệ tử trong Vạn Phật Thành mới cùng nhau niệm "A Di Đà Phật" trên đường về Đại điện,
thì phát hiện ra một con rắn lục có vằn nằm ngay nơi cửa trước Đại điện, dài khoảng ba bốn bộ, hình dạng rất nhỏ và dài.
Đại chúng thấy rắn thì sợ không dám tiến vào,
Bấy giờ vị Tăng giám thị, thầy Hằng Vô, muốn đem con rắn vứt ra ngoài.
Song lúc đó thì Hoà Thượng cũng đang tiến lại,
Ngài mỉm cười nói rằng :
"Không cần thiết đâu, tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, con rắn tới là để thân cận Tam Bảo, để nghe Pháp, không nên đuổi nó !"
Kỳ lạ thay, con rắn này không giống như những con rắn bình thường khác,
mình nó trườn dài ra mặt đất,
tuy có trăm người bước qua mình, mà nó không sợ hãi gì cả,
Nó hết sức thuần thục và hiền lành.
Khi Hoà Thượng lên đài thuyết Pháp thì dạy rằng : "Kêu con rắn vào đây mà nghe Pháp đi."
Con rắn nghe như vậy thì lập tức tiến vào, nó bò từ từ vào đến ngay giữa Chánh điện không hề làm kinh sợ những người hai bên,
Rồi từ nơi Đại điện ở phía trái nó bò qua bên phải,
Rồi mới nhiễu quanh tượng Phật một vòng,
Xong từ từ nằm phục xuống ở Pháp tòa, cũng giống như là quỳ trước tượng Phật vậy, nằm im nghe Pháp.
Hoà thượng mới khai thị cho nó như vầy :
"Nhất thiết chúng sinh
Giai hữu Phật tánh
Giai kham tác Phật."
Đó là câu nói từ kim khẩu của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.
Chỉ vì vọng tưởng chấp trước nên chúng sinh không chứng được trí huệ đức tướng của Như Lai.
Từ nơi câu nói nầy chúng ta có thể suy ra mọi chúng sinh đều có tánh Phật ;
đã vậy thì không nên sát sinh, không nên trộm cắp, không nên tà dâm, không nên vọng ngữ, không nên uống rượu ;
mà phải giữ năm giới !
Sát sinh là giết mười phương chư Phật, vì chúng sinh là do Phật thị hiện mà ra.
Do vì một niệm không giác ngộ nên sinh ra ba thứ vô minh rất vi tế (nghiệp tướng, hiện tướng, chuyển tướng),
Chúng sinh mới trầm luân trong biển khổ, xa lìa rồi vĩnh viễn mất đi nền Đạo chân thật !
Các vị tu Đạo hãy quán tưởng rằng tất cả chúng sinh đều là cha mẹ của mình trong quá khứ, đều là những vị Phật trong tương lai,
nên khi họ chưa thành Phật, mình phải tôn kính họ.
Mình phải đối với chúng sinh như là đối với ba đời chư Phật vậy.
Suy nghĩ như vậy thì tự nhiên hết khinh thường, bất kính, hay nhiễu loạn chúng sinh.
Chúng sinh không phải chỉ là thứ hữu hình, thậm chí thứ vô hình như quỷ, thần, thiên, ma đều là chúng sinh cả.
Cho nên mình phải bình đẳng cung kính, tôn trọng họ, không nên coi thường họ.
Hôm nay con rắn mà các vị gặp ở Phật điện cũng là một chúng sinh.
Song, do nó thị hiện thân rắn, nên chúng ta thấy sợ, thấy mà không nhận thức, thậm chí còn bị lừa nữa.
Rắn này tới đây chỉ để thân cận Tam Bảo, để nghe Pháp, nghe Kinh,
nếu không vầy thì sao nó vào đây mà hết sức hiền hoà, nằm phủ phục chẳng động đậy gì cả nơi bục cửa ?
Tuy nhiên, lấy mắt nhìn thì nó chỉ là con rắn nhỏ ;
kỳ thật rắn này có sức thiên biến vạn hóa ; có thể ẩn hình, có thể thu nhỏ, biến lớn, lại biết đằng vân giá vũ, bay qua luợn lại trong không trung.
Chúng ta không thể biết được bản lĩnh của nó.
Rắn này tương lai tu hành thành công cũng sẽ đắc đạo.
Trong Kinh Phật có đề cập tới Thiên Long Bát Bộ, thì rắn này thuộc một trong tám bộ đó : Tức là Ma Hầu La Già (đại mãng xà).
Quan sát nhân duyên con rắn này, có thể là :
Ở thời nhà Châu, rắn này là một vị đại thần, xong tâm địa rất xấu xa, hiểm ác.
Vì âm mưu soán đoạt ngôi vua, cho nên y dùng một con dao găm có tẩm rượu độc bỏ vào trong tay áo rồi đi hành thích nhà vua.
Tuy nhiên, chẳng những y không soán đoạt được ngôi vua mà ngược lại,
còn làm cho trời giận, dân oán.
Vị đại thần đó khi lâm chung thì sinh tâm hết sức sân hận, độc địa, cho nên chết rồi đọa làm thân rắn, rồi có đời chuyển thành con trăn lớn.
Ở trên thế gian có hai thế lực là âm và dương, hay thiện và ác.
Nếu theo đường thiện mà tận lực tu phuớc và huệ thì có thể thành Thiên, thành Thánh, thành Bồ-tát, thành Phật.
Nếu theo đường ác mà luyện tập thì thế lực càng ngày càng lớn, song toàn làm những chuyện hắc ám, nào là hãm hại, tàn sát, oán hận, báo thù,
do đó mỗi ngày mỗi chồng chất oán khí đầy đặc, lớn lao ;
kẻ tích tập oán khí sâu dầy đó sau này sẽ biến thành rắn độc, rồng độc v.v...
Những thứ rắn độc hay rồng độc không phải là thứ mà phàm thấy đặng,
song chúng đầy rẫy trong thế giới này.
Thứ rắn độc, rồng độc đó là do tâm tham, sân, si tích lũy hình thành.
Cho nên khi bọn chúng tới chỗ nào là chỗ đó có tai họa.
Thiên tai, nhân họa, phi thi (xác chết biết đi), tà quỷ (quỷ phá làng phá xóm), yêu tinh (những thứ cây cối thực vật, khoáng chất ... hấp thụ tinh khí trời đất mà thành), ma yếm (quỷ tu luyện lâu năm thành ma), hay hoạnh dịch lưu hành (những thứ bịnh nan y) đều do những thứ rắn độc này tác quái.
Còn rồng độc, dịch quỷ, thì chuyên phóng khí độc, để làm loạn tâm người hoặc đoạt tinh khí của người, làm cho người ta kinh sợ, điên cuồng.
Cho nên, hiện thời lưu hành đủ thứ bịnh tâm lý, như là tinh thần phân liệt, hoặc là điên cuồng, khiếp sợ và đủ thứ tật bịnh sinh lý ...,
tất cả đều không ra ngoài phạm vi làm sóng làm gió của bọn yêu ma quỷ quái này.
Tâm lý học và y học hiện đại không hiểu được một cách sâu sắc nguyên do của những chứng bịnh đó, cho nên không thể đối bịnh cho thuốc để chữa trị.
Đương nhiên Phật Pháp thì có linh dược triệt để trừ hết được tai nạn, dứt hết được tai ương !
Lại nói đến nhân duyên của rắn độc này :
Vì sẵn có tâm sân hận, lại thêm tu luyện cái tâm sân hận đó cho nên mới thành tinh.
Rắn luyện pháp thuật càng ngày càng cao.
Trải qua một thời gian lâu dài thì nó thông thiên triệt địa, nhưng chỉ lấy chuyện hại người làm vui.
Những chuyện tương tợ như con rắn này trong trời đất có nhiều vô số kể,
nên tôi hy vọng bọn chúng mau sinh tâm sám hối, đừng làm chuyện yêu nghiệt, gieo họa cho nhân gian nữa.
Cho đến đời nhà Tống thì con rắn này trở nên một con rồng độc.
Nó ngự trị trên một con sông lớn, chuyên làm sóng gió mưa bão, sát hại không biết bao nhiêu thuyền chài, ngư phủ và khách qua sông.
Cả một thời gian dài, có vị Thánh Tăng pháp thuật rất cao cường đặc biệt tới để giải cứu.
Vị đó tay cầm tích trượng, đứng bên bờ sông, lớn tiếng khiển trách rồng độc.
Rồng độc nghe được thì vô cùng tức giận, mới trổ hết bản lĩnh hiện ra thân hình mãng xà dài ngàn trượng.
Song, vị Pháp Sư vì có Kim Cang Tam Muội chấp trì nên chẳng hề sợ hãi.
Ngài dùng pháp "Câu triệu" và pháp "Hàng phục" (hai phương pháp để chế phục quỷ thần), trải qua ba ngày ba đêm sống chết chiến đấu với nó,
Cuối cùng thì Ngài chiết phục được rồng độc.
Tà không thắng chánh !
Khi ác thuật bị phá rồi thì rồng độc chẳng còn cách gì khác hơn là phải đầu hàng.
Bấy giờ vị Pháp Sư này mới thuyết Pháp rằng :"Tất cả mọi thứ đều là khổ, là không, là vô thường, là vô ngã, và chỉ có cái nghiệp là theo thân mình !"
Đồng thời Ngài dạy nó nên sinh lòng từ bi, dùng pháp thuật để giúp ích chúng sinh, chớ không thể gia hại sinh linh nữa.
Rồng nghe Pháp rồi thì thức tỉnh, nên được con mắt thanh tịnh.
Vị Pháp Sư mới truyền thọ cho nó Tam Quy, Ngũ Giới,
rồi biểu nó tới một sơn động nọ để tu hành, đừng làm não hại nhân dân nữa ; rồng độc liền tuân theo lời dạy.
Từ đời Tống đến nay đã trải qua mấy trăm năm lịch sử rồi, con rồng đó đã trở thành một trong Thiên Long Bát Bộ, thần thông biến hóa vô cùng."
Có lần trong Điện Vạn Phật có một vị Tỳ-kheo-ni nói rằng :
"Mấy ngày trước, khi đi ngang qua Đại Hỷ Xả Viện tôi thấy đuôi con rắn này thò ra ngoài,
cho nên tôi lấy cây gắp bỏ nó vào hộp gỗ, định đem đi xa rồi thả để nó đừng gây hại người.
Ai ngờ chỉ quay đầu lại, mở hộp ra thì rắn đã biến mất rồi.
Rõ ràng rắn không cách gì có thể thoát ra được, nhưng lạ thay, thật là nó có thần thông."
Hoà Thượng cười mà nói rằng :
"Con rắn này tôi đã biết nó từ trước rồi !
Hai mươi năm trước, khi tôi còn ở Chùa Từ Hưng trên núi Đại Dư ở Hương Cảng thì nó đã từng tới Chuà để nghe Kinh.
Tuy nó không làm hại ai nhưng ai cũng đều sợ nó !
Sợ cái tướng rắn. Có lần có người cũng nhặt nó bỏ trong hộp, rồi đem đi thật là xa, không biết bao nhiêu dặm, chừng khi mở hộp để thả nó, thì rắn không cánh mà bay mất.
Ngày nay Phật Pháp truyền sang Tây Phương, rắn này cũng không chối từ đường sá xa xôi bay qua Mỹ để hộ Pháp."
Sau cùng Hoà Thượng giảng dạy như sau :
"Chúng sinh học Phật cần phải tin sâu nhân quả.
Nếu không trồng nhân ác thì tự nhiên chẳng kết quả ác,
nếu trồng nhân tốt thì tương lai chắt chắn sẽ được kết quả tốt.
Nhân, quả không sai một mảy may.
Mình giết cha người khác thì có người giết cha mình,
mình giết anh người khác thì người khác sẽ giết anh mình.
Đừng nghĩ rằng có thể tùy tiện làm chuyện ác vì làm chuyện ác sẽ hết sức tổn hại cho mình.
Vì sao ? Vì trời cao có đức hiếu sinh, không muốn cho chúng sinh làm hại chúng sinh.
Khi mình làm sai với lý nhân quả thì : Thân người mà mất đi, vạn kiếp khó có lại được.
Cho nên, chuyện gì không tin cũng được,
nhưng không thể không tin lý nhân quả !
Nếu bài bác lý nhân quả thì tương lai sẽ hết sức nguy hiểm.
Bồ-tát sợ nhân mà không sợ quả,
cho nên hết sức thận trọng lúc trồng nhân.
Vì nếu vô ý mà trồng nhân ác, thì lúc thọ quả báo ác, các Ngài đối mặt tiếp thọ quả báo, không chạy trốn, không oán trời cũng không trách người.
Ngược lại, chúng sinh thì sợ quả báo mà không sợ lúc trồng nhân.
Lúc trồng nhân thì hết sức tùy tiện làm chuyện điên đảo,
đến lúc thọ quả báo ác thì sợ hãi vô cùng, oán người trách trời : "Tại sao tôi phải chịu đau khổ thế này ?
Tại sao tôi phải chịu báo ứng bất công như thế này .v.v. ?"
Các vị có biết đâu rằng nếu như khi xưa không trồng nhân như vậy thì bây giờ sao gặt quả như thế ?
Hôm nay gặp nhân duyên này, có Thiên Long Bát Bộ hiện thân thuyết Pháp, cho nên tôi nhân cơ hội nó cho các vị biết tiền nhân hậu quả.
Chỉ nhân nhất trước thác,
Thâu liễu mãn bàn kỳ.
Nghĩa là :
Chỉ đi sai một nước,
Mà thua cả ván cờ.
Sai lầm chỉ một niệm mà kiếp vận khó vãn hồi.
May thay là con rắn nay đã quy y Tam Bảo,
tương lai nó còn có cơ hội để minh tâm kiến tánh.
Nếu các vị không tin vào nhân duyên này, thì cứ tự mình thí nghiệm xem ;
Còn nếu tin nhân quả, thì đừng nên nghi ngờ gì chuyện này cả
Nguồn : ChuaKimQuang.Com
Ngày chủ nhật, 20 tháng 6 năm 1982, đúng lúc cử hành Pháp diên, bốn chúng đệ tử trong Vạn Phật Thành mới cùng nhau niệm "A Di Đà Phật" trên đường về Đại điện,
thì phát hiện ra một con rắn lục có vằn nằm ngay nơi cửa trước Đại điện, dài khoảng ba bốn bộ, hình dạng rất nhỏ và dài.
Đại chúng thấy rắn thì sợ không dám tiến vào,
Bấy giờ vị Tăng giám thị, thầy Hằng Vô, muốn đem con rắn vứt ra ngoài.
Song lúc đó thì Hoà Thượng cũng đang tiến lại,
Ngài mỉm cười nói rằng :
"Không cần thiết đâu, tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, con rắn tới là để thân cận Tam Bảo, để nghe Pháp, không nên đuổi nó !"
Kỳ lạ thay, con rắn này không giống như những con rắn bình thường khác,
mình nó trườn dài ra mặt đất,
tuy có trăm người bước qua mình, mà nó không sợ hãi gì cả,
Nó hết sức thuần thục và hiền lành.
Khi Hoà Thượng lên đài thuyết Pháp thì dạy rằng : "Kêu con rắn vào đây mà nghe Pháp đi."
Con rắn nghe như vậy thì lập tức tiến vào, nó bò từ từ vào đến ngay giữa Chánh điện không hề làm kinh sợ những người hai bên,
Rồi từ nơi Đại điện ở phía trái nó bò qua bên phải,
Rồi mới nhiễu quanh tượng Phật một vòng,
Xong từ từ nằm phục xuống ở Pháp tòa, cũng giống như là quỳ trước tượng Phật vậy, nằm im nghe Pháp.
Hoà thượng mới khai thị cho nó như vầy :
"Nhất thiết chúng sinh
Giai hữu Phật tánh
Giai kham tác Phật."
Đó là câu nói từ kim khẩu của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.
Chỉ vì vọng tưởng chấp trước nên chúng sinh không chứng được trí huệ đức tướng của Như Lai.
Từ nơi câu nói nầy chúng ta có thể suy ra mọi chúng sinh đều có tánh Phật ;
đã vậy thì không nên sát sinh, không nên trộm cắp, không nên tà dâm, không nên vọng ngữ, không nên uống rượu ;
mà phải giữ năm giới !
Sát sinh là giết mười phương chư Phật, vì chúng sinh là do Phật thị hiện mà ra.
Do vì một niệm không giác ngộ nên sinh ra ba thứ vô minh rất vi tế (nghiệp tướng, hiện tướng, chuyển tướng),
Chúng sinh mới trầm luân trong biển khổ, xa lìa rồi vĩnh viễn mất đi nền Đạo chân thật !
Các vị tu Đạo hãy quán tưởng rằng tất cả chúng sinh đều là cha mẹ của mình trong quá khứ, đều là những vị Phật trong tương lai,
nên khi họ chưa thành Phật, mình phải tôn kính họ.
Mình phải đối với chúng sinh như là đối với ba đời chư Phật vậy.
Suy nghĩ như vậy thì tự nhiên hết khinh thường, bất kính, hay nhiễu loạn chúng sinh.
Chúng sinh không phải chỉ là thứ hữu hình, thậm chí thứ vô hình như quỷ, thần, thiên, ma đều là chúng sinh cả.
Cho nên mình phải bình đẳng cung kính, tôn trọng họ, không nên coi thường họ.
Hôm nay con rắn mà các vị gặp ở Phật điện cũng là một chúng sinh.
Song, do nó thị hiện thân rắn, nên chúng ta thấy sợ, thấy mà không nhận thức, thậm chí còn bị lừa nữa.
Rắn này tới đây chỉ để thân cận Tam Bảo, để nghe Pháp, nghe Kinh,
nếu không vầy thì sao nó vào đây mà hết sức hiền hoà, nằm phủ phục chẳng động đậy gì cả nơi bục cửa ?
Tuy nhiên, lấy mắt nhìn thì nó chỉ là con rắn nhỏ ;
kỳ thật rắn này có sức thiên biến vạn hóa ; có thể ẩn hình, có thể thu nhỏ, biến lớn, lại biết đằng vân giá vũ, bay qua luợn lại trong không trung.
Chúng ta không thể biết được bản lĩnh của nó.
Rắn này tương lai tu hành thành công cũng sẽ đắc đạo.
Trong Kinh Phật có đề cập tới Thiên Long Bát Bộ, thì rắn này thuộc một trong tám bộ đó : Tức là Ma Hầu La Già (đại mãng xà).
Quan sát nhân duyên con rắn này, có thể là :
Ở thời nhà Châu, rắn này là một vị đại thần, xong tâm địa rất xấu xa, hiểm ác.
Vì âm mưu soán đoạt ngôi vua, cho nên y dùng một con dao găm có tẩm rượu độc bỏ vào trong tay áo rồi đi hành thích nhà vua.
Tuy nhiên, chẳng những y không soán đoạt được ngôi vua mà ngược lại,
còn làm cho trời giận, dân oán.
Vị đại thần đó khi lâm chung thì sinh tâm hết sức sân hận, độc địa, cho nên chết rồi đọa làm thân rắn, rồi có đời chuyển thành con trăn lớn.
Ở trên thế gian có hai thế lực là âm và dương, hay thiện và ác.
Nếu theo đường thiện mà tận lực tu phuớc và huệ thì có thể thành Thiên, thành Thánh, thành Bồ-tát, thành Phật.
Nếu theo đường ác mà luyện tập thì thế lực càng ngày càng lớn, song toàn làm những chuyện hắc ám, nào là hãm hại, tàn sát, oán hận, báo thù,
do đó mỗi ngày mỗi chồng chất oán khí đầy đặc, lớn lao ;
kẻ tích tập oán khí sâu dầy đó sau này sẽ biến thành rắn độc, rồng độc v.v...
Những thứ rắn độc hay rồng độc không phải là thứ mà phàm thấy đặng,
song chúng đầy rẫy trong thế giới này.
Thứ rắn độc, rồng độc đó là do tâm tham, sân, si tích lũy hình thành.
Cho nên khi bọn chúng tới chỗ nào là chỗ đó có tai họa.
Thiên tai, nhân họa, phi thi (xác chết biết đi), tà quỷ (quỷ phá làng phá xóm), yêu tinh (những thứ cây cối thực vật, khoáng chất ... hấp thụ tinh khí trời đất mà thành), ma yếm (quỷ tu luyện lâu năm thành ma), hay hoạnh dịch lưu hành (những thứ bịnh nan y) đều do những thứ rắn độc này tác quái.
Còn rồng độc, dịch quỷ, thì chuyên phóng khí độc, để làm loạn tâm người hoặc đoạt tinh khí của người, làm cho người ta kinh sợ, điên cuồng.
Cho nên, hiện thời lưu hành đủ thứ bịnh tâm lý, như là tinh thần phân liệt, hoặc là điên cuồng, khiếp sợ và đủ thứ tật bịnh sinh lý ...,
tất cả đều không ra ngoài phạm vi làm sóng làm gió của bọn yêu ma quỷ quái này.
Tâm lý học và y học hiện đại không hiểu được một cách sâu sắc nguyên do của những chứng bịnh đó, cho nên không thể đối bịnh cho thuốc để chữa trị.
Đương nhiên Phật Pháp thì có linh dược triệt để trừ hết được tai nạn, dứt hết được tai ương !
Lại nói đến nhân duyên của rắn độc này :
Vì sẵn có tâm sân hận, lại thêm tu luyện cái tâm sân hận đó cho nên mới thành tinh.
Rắn luyện pháp thuật càng ngày càng cao.
Trải qua một thời gian lâu dài thì nó thông thiên triệt địa, nhưng chỉ lấy chuyện hại người làm vui.
Những chuyện tương tợ như con rắn này trong trời đất có nhiều vô số kể,
nên tôi hy vọng bọn chúng mau sinh tâm sám hối, đừng làm chuyện yêu nghiệt, gieo họa cho nhân gian nữa.
Cho đến đời nhà Tống thì con rắn này trở nên một con rồng độc.
Nó ngự trị trên một con sông lớn, chuyên làm sóng gió mưa bão, sát hại không biết bao nhiêu thuyền chài, ngư phủ và khách qua sông.
Cả một thời gian dài, có vị Thánh Tăng pháp thuật rất cao cường đặc biệt tới để giải cứu.
Vị đó tay cầm tích trượng, đứng bên bờ sông, lớn tiếng khiển trách rồng độc.
Rồng độc nghe được thì vô cùng tức giận, mới trổ hết bản lĩnh hiện ra thân hình mãng xà dài ngàn trượng.
Song, vị Pháp Sư vì có Kim Cang Tam Muội chấp trì nên chẳng hề sợ hãi.
Ngài dùng pháp "Câu triệu" và pháp "Hàng phục" (hai phương pháp để chế phục quỷ thần), trải qua ba ngày ba đêm sống chết chiến đấu với nó,
Cuối cùng thì Ngài chiết phục được rồng độc.
Tà không thắng chánh !
Khi ác thuật bị phá rồi thì rồng độc chẳng còn cách gì khác hơn là phải đầu hàng.
Bấy giờ vị Pháp Sư này mới thuyết Pháp rằng :"Tất cả mọi thứ đều là khổ, là không, là vô thường, là vô ngã, và chỉ có cái nghiệp là theo thân mình !"
Đồng thời Ngài dạy nó nên sinh lòng từ bi, dùng pháp thuật để giúp ích chúng sinh, chớ không thể gia hại sinh linh nữa.
Rồng nghe Pháp rồi thì thức tỉnh, nên được con mắt thanh tịnh.
Vị Pháp Sư mới truyền thọ cho nó Tam Quy, Ngũ Giới,
rồi biểu nó tới một sơn động nọ để tu hành, đừng làm não hại nhân dân nữa ; rồng độc liền tuân theo lời dạy.
Từ đời Tống đến nay đã trải qua mấy trăm năm lịch sử rồi, con rồng đó đã trở thành một trong Thiên Long Bát Bộ, thần thông biến hóa vô cùng."
Có lần trong Điện Vạn Phật có một vị Tỳ-kheo-ni nói rằng :
"Mấy ngày trước, khi đi ngang qua Đại Hỷ Xả Viện tôi thấy đuôi con rắn này thò ra ngoài,
cho nên tôi lấy cây gắp bỏ nó vào hộp gỗ, định đem đi xa rồi thả để nó đừng gây hại người.
Ai ngờ chỉ quay đầu lại, mở hộp ra thì rắn đã biến mất rồi.
Rõ ràng rắn không cách gì có thể thoát ra được, nhưng lạ thay, thật là nó có thần thông."
Hoà Thượng cười mà nói rằng :
"Con rắn này tôi đã biết nó từ trước rồi !
Hai mươi năm trước, khi tôi còn ở Chùa Từ Hưng trên núi Đại Dư ở Hương Cảng thì nó đã từng tới Chuà để nghe Kinh.
Tuy nó không làm hại ai nhưng ai cũng đều sợ nó !
Sợ cái tướng rắn. Có lần có người cũng nhặt nó bỏ trong hộp, rồi đem đi thật là xa, không biết bao nhiêu dặm, chừng khi mở hộp để thả nó, thì rắn không cánh mà bay mất.
Ngày nay Phật Pháp truyền sang Tây Phương, rắn này cũng không chối từ đường sá xa xôi bay qua Mỹ để hộ Pháp."
Sau cùng Hoà Thượng giảng dạy như sau :
"Chúng sinh học Phật cần phải tin sâu nhân quả.
Nếu không trồng nhân ác thì tự nhiên chẳng kết quả ác,
nếu trồng nhân tốt thì tương lai chắt chắn sẽ được kết quả tốt.
Nhân, quả không sai một mảy may.
Mình giết cha người khác thì có người giết cha mình,
mình giết anh người khác thì người khác sẽ giết anh mình.
Đừng nghĩ rằng có thể tùy tiện làm chuyện ác vì làm chuyện ác sẽ hết sức tổn hại cho mình.
Vì sao ? Vì trời cao có đức hiếu sinh, không muốn cho chúng sinh làm hại chúng sinh.
Khi mình làm sai với lý nhân quả thì : Thân người mà mất đi, vạn kiếp khó có lại được.
Cho nên, chuyện gì không tin cũng được,
nhưng không thể không tin lý nhân quả !
Nếu bài bác lý nhân quả thì tương lai sẽ hết sức nguy hiểm.
Bồ-tát sợ nhân mà không sợ quả,
cho nên hết sức thận trọng lúc trồng nhân.
Vì nếu vô ý mà trồng nhân ác, thì lúc thọ quả báo ác, các Ngài đối mặt tiếp thọ quả báo, không chạy trốn, không oán trời cũng không trách người.
Ngược lại, chúng sinh thì sợ quả báo mà không sợ lúc trồng nhân.
Lúc trồng nhân thì hết sức tùy tiện làm chuyện điên đảo,
đến lúc thọ quả báo ác thì sợ hãi vô cùng, oán người trách trời : "Tại sao tôi phải chịu đau khổ thế này ?
Tại sao tôi phải chịu báo ứng bất công như thế này .v.v. ?"
Các vị có biết đâu rằng nếu như khi xưa không trồng nhân như vậy thì bây giờ sao gặt quả như thế ?
Hôm nay gặp nhân duyên này, có Thiên Long Bát Bộ hiện thân thuyết Pháp, cho nên tôi nhân cơ hội nó cho các vị biết tiền nhân hậu quả.
Chỉ nhân nhất trước thác,
Thâu liễu mãn bàn kỳ.
Nghĩa là :
Chỉ đi sai một nước,
Mà thua cả ván cờ.
Sai lầm chỉ một niệm mà kiếp vận khó vãn hồi.
May thay là con rắn nay đã quy y Tam Bảo,
tương lai nó còn có cơ hội để minh tâm kiến tánh.
Nếu các vị không tin vào nhân duyên này, thì cứ tự mình thí nghiệm xem ;
Còn nếu tin nhân quả, thì đừng nên nghi ngờ gì chuyện này cả
Nguồn : ChuaKimQuang.Com
Cây chướng ngàn năm xin quy y
Thực vật cũng muốn quy y vào cửa Phật ? Trong Chùa Phổ Tế núi Phổ Đà tỉnh Chiết Giang Trung Quốc có một cây cổ thụ tên Chướng đã 1989 tuổi, đã nhờ qua trung gian một người có thần thông, thỉnh cầu xin quy y với Hoà Thượng Tuyên Hoá ở Mỹ. Cây Chướng đã quy y vào ngày 23/10/1994 tại Chùa Trường Đê Long Beach, Los Angeles.
Chùa Trường Đê đối diện với thái bình dương, phong cảnh rất đẹp. Ngôi Chùa nầy do Hoà Thượng Tuyên Hoá sáng lập sau Chùa Kim Luân ở Los Angeles. Vào ngày 23 tháng 10 thời tiết ở đây mát mẻ ấm áp dễ chịu. Vào khoảng 8 giờ sáng, có khoảng 300 phật tử, trong đó có 21 vị muốn xuống tóc xuất gia làm đệ tử Phật, cùng nhau tham gia lễ xuống tóc.
21 vị phát tâm xuất gia, trong đó có 4 người nam, 17 người nữ, đến từ Phần Lan bắc âu, Gia Nã Đại, Mỹ, Trung Quốc, Đài Loan, Hương Cảng, Tân Gia Ba, Mã lai và Việt Nam. Tuổi tác từ 6 tuổi đến 72 tuổi. Bà giáo sư họ Ngô dạy trường trung học Nhất Nữ nổi tiếng bên Đài Loan, lái xe từ Nữu Ước về Cali mất hết bốn ngày để xin xuất gia với Hoà Thượng. Còn có một cậu bé và cô em gái cũng xin xuất gia vào ngày đó. Cô bé mới được 6 tuổi đã nói với ba mẹ của cô từ lúc cô mới tập biết nói, cô nói rằng :"Tương lai con muốn trở thành Ni Cô". Còn cậu bé anh của cô bé ba năm trước đã phát nguyện :"Con muốn trở thành một Tu Sĩ". Cha mẹ của cô cậu vừa nói ở trên là gốc người Đài Loan, là kỷ sư về máy điện toán và giáo sư trung học. Họ mong muốn cho con của họ có thể sớm thành Phật đạo, phổ độ chúng sinh. Ngoài ra còn có một cô bé gái người Việt theo dấu chân của bà ngoại và ông anh ruột 12 tuổi xin ghi danh xuất gia đã nửa năm qua. Cô ta đã mãn nguyện vào ngày 23 tháng 10 vừa qua. Khi hỏi cô ta tại sao còn quá nhỏ mà muốn xuất gia ? Cô ta nói tiếng Anh rất lưu loát, đầy tự tin nói :"Vì tôi muốn vào tù để nói Phật pháp cho những tù nhân".
Trong khoá lễ xuống tóc. Hoà Thượng cổ lệ những người mới vào cửa Phật :"Tu đạo là 'Thầy chỉ có trách nhiệm dẫn tới cửa, tu hành tại mỗi người '. Nếu các con không chuyên tâm tu hành, chẳng dụng công thì dù các con có lạy Đức Phật Thích Ca làm thầy cũng chẳng có ích gì. Các con hãy tự mình nghĩ :'Xuất gia là vì muốn chấm dứt sinh tử, là vì muốn khai ngộ, nếu vẫn giải đãi, không cố gắng tinh tấn tu hành thì xuất gia chẳng có ích gì'. Hôm nay các con xuất gia, tức là bước đầu tiên hướng đến thành Phật, đều phải sớm thành Phật đạo".
Sau khi khoá lễ xuất gia kết thúc, buổi chiều sẽ cử hàh lễ quy y và thọ ngũ giới, thập giới, Thức Xoa Ma Na giới. Trong lúc khoá lễ thì một vị cư sĩ họ Dương (Cô nầy đã khai mở ngũ ngãn. Không những cô ta đã khai mở ngũ nhãn mà cha của cô cũng khai mở ngũ nhãn), đệ tử của Hoà Thượng, đặc biệt từ Trung Quốc gọi điện thoại sang nói :"Tôi và cha của tôi đến núi Phổ Đà để lễ Phật thì gặp một cây cổ thụ (cây Chướng) rất lớn khoảng mấy người ôm. Cây đó nói với tôi rằng : Nó muốn quy y với Hoà Thượng Tuyên Hoá. Tôi cảm thấy rất kỳ quái, mới hỏi nó : Ông ở tại Chùa nầy đã lâu năm, chẳng lẽ không gặp một người nào là người chân chánh tu hành để quy y chăng ? Còn nhất định muốn quy y với Hoà Thượng Tuyên Hoá ?" Cây Chướng nói : Nó chưa gặp một vị chân chánh tu hành để quy y ; trước kia vì nhân duyên không thành thục, bây giờ muốn quy y với Hoà Thượng. Tôi nói :"Vậy thì tốt ! Nhưng đợi để tôi hỏi Hoà Thượng rồi hãy trả lời cho ông hay". Sau đó, tôi về nhà nghỉ ngơi, vì mệt quá nên đã ngủ say, khi tỉnh dậy thì quên mất việc đó, chẳng nói với Hoà Thượng để thỉnh ý Hoà Thượng. Buổi chiều, tôi nghĩ muốn đi Chùa, song le khi xuống lầu, tôi muốn quay đầu nói chuyện với ba tôi thì tự nhiên cái cổ cứng đờ, may là nó không gãy, trong tâm tôi lập tức nghĩ :"Mình có làm việc gì sai chăng ?" Đang suy nghĩ, quay qua thấy cây Chướng ở trong Chùa, liền biết ngay là mình quên thực hiện lời hứa với cây Chướng. Lúc đó cây Chướng nói với tôi :"Sao cô lại sơ ý ? quên mất việc tôi nhờ cô !" Tôi nói : "Xin lỗi, xin lỗi ! Vì trí nhớ của tôi kém quá, ông đừng giận tôi nhé, bây giờ tôi sẽ hỏi Hoà Thượng cho ông". Tôi bèn thỉnh ý Hoà Thượng. Hoà Thượng nói :"Làm hay không làm đệ tử của tôi chẳng quan trọng, chỉ cần làm được 'siêng tu giới định huệ, diệt trừ tham sân si', thì tốt rồi". Tôi chuyển lời đến cây Chướng và thêm :"Chỉ cần ông giữ được sáu đại tông chỉ của Vạn Phật Thành : Không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ, không tư lợi, không nói dối thì dù ông không có duyên gặp Hoà Thượng, ông cũng là đệ tử của Hoà Thượng". Ông ta trả lời là làm được những điều đó, còn phát thệ đại nguyện lực giống như Bồ Tát Quán Thế Âm, tương lai cũng muốn phổ độ chúng sinh. Lúc đó, tôi nhìn thấy ông ta đã thành hình tượng một tiểu Sa Môn, quỳ xuống đất chắp tay lại, và lúc đó Bồ Tát Quán Thế Âm xuất hiện ở phía trên ông ta, dùng nước cam lồ trong tịnh bình quán đảnh cho ông ta, tôi nhìn rồi rất cảm động. Sau khi về nhà tôi thuật lại từng chi tiết cho Hoà Thượng hay. Ông ta tên là Nhân Năng. Tôi hỏi ông ta tu hành thì nương tựa vào đâu mà tu hành ? Ông ta nói ông ta cứ niệm "Tâm Kinh", để nghiên cứu đạo lý trong "Tâm Kinh"; nhưng còn thiếu "minh sư" chỉ điểm, nên không thể hoàn toàn hiểu hết.
Từ khi cư sĩ họ Dương là Phật tử kiền thành lại có thần thông để nói chuyện và hiểu các loài chúng sinh khác, do vậy mà cây Chướng bèn nhờ cô ta, xin Hoà Thượng quy y. Từ đây có minh nhãn thiện tri thức chỉ điểm. Cư sĩ họ Dương đặc biệc hỏi cây Chướng đó là làm thế nào mà ông biết được Hoà Thượng ? Tại sao nhất định muốn quy y với Hoà Thượng ? Cây Chướng nói : Thật đơn giản ! Vì hết thảy tất cả chúng sinh, trên thật tế đều nghe được Hoà Thượng thuyết pháp. Vì lúc Hoà Thượng thuyết pháp thì tận hư không biến pháp giới tất cả chúng sinh đều nghe được, thấy được ; chỉ có những người bị tài, sắc, danh, lợi trói buộc cho nên nghe mà chẳng nghe, nhìn mà chẳng thấy. Còn các chúng sinh khác đều nghe được pháp của Hoà Thượng giảng trong sự yên lặng và tu hành trong sự yên lặng, tài bồi hạt giống bồ đề. Cho nên, ông ta đã nghe Hoà Thượng thuyết pháp từ lâu rồi.
Trước khi kết thúc khoá lễ quy y. Đặc biệt Hoà Thượng khai thị xiển minh quan trọng của sự tu đạo :"Bất cứ bạn là gì , bạn có tư tưởng chân thật, tơ hào chẳng cẩu thả, đừng làm điều mà người đời làm, mà phải đi ngược lại với người thế tục thì bạn sẽ đắc được lợi ích của Phật giáo. Cho nên, các vị xuất gia, tại gia đều phải làm Phật giáo đồ chân chánh, khác với một số người, đừng giống như một số người :Ttranh, tham, cầu, ích kỷ, tư lợi, suốt ngày đến tối chẳng lúc nào mà không nói dối. Đây là điều quang trọng thiết yếu ! Sáu đại tông chỉ nầy là bước thứ nhất học Phật, bước thứ nhất thành Phật, chúng ta đừng quên nó ! Đừng coi thường nó ! Cũng phải học nhiều về sự thiệt thòi, đừng chiếm tiện nghi".
Nguồn : ChuaKimQuang
Chùa Trường Đê đối diện với thái bình dương, phong cảnh rất đẹp. Ngôi Chùa nầy do Hoà Thượng Tuyên Hoá sáng lập sau Chùa Kim Luân ở Los Angeles. Vào ngày 23 tháng 10 thời tiết ở đây mát mẻ ấm áp dễ chịu. Vào khoảng 8 giờ sáng, có khoảng 300 phật tử, trong đó có 21 vị muốn xuống tóc xuất gia làm đệ tử Phật, cùng nhau tham gia lễ xuống tóc.
21 vị phát tâm xuất gia, trong đó có 4 người nam, 17 người nữ, đến từ Phần Lan bắc âu, Gia Nã Đại, Mỹ, Trung Quốc, Đài Loan, Hương Cảng, Tân Gia Ba, Mã lai và Việt Nam. Tuổi tác từ 6 tuổi đến 72 tuổi. Bà giáo sư họ Ngô dạy trường trung học Nhất Nữ nổi tiếng bên Đài Loan, lái xe từ Nữu Ước về Cali mất hết bốn ngày để xin xuất gia với Hoà Thượng. Còn có một cậu bé và cô em gái cũng xin xuất gia vào ngày đó. Cô bé mới được 6 tuổi đã nói với ba mẹ của cô từ lúc cô mới tập biết nói, cô nói rằng :"Tương lai con muốn trở thành Ni Cô". Còn cậu bé anh của cô bé ba năm trước đã phát nguyện :"Con muốn trở thành một Tu Sĩ". Cha mẹ của cô cậu vừa nói ở trên là gốc người Đài Loan, là kỷ sư về máy điện toán và giáo sư trung học. Họ mong muốn cho con của họ có thể sớm thành Phật đạo, phổ độ chúng sinh. Ngoài ra còn có một cô bé gái người Việt theo dấu chân của bà ngoại và ông anh ruột 12 tuổi xin ghi danh xuất gia đã nửa năm qua. Cô ta đã mãn nguyện vào ngày 23 tháng 10 vừa qua. Khi hỏi cô ta tại sao còn quá nhỏ mà muốn xuất gia ? Cô ta nói tiếng Anh rất lưu loát, đầy tự tin nói :"Vì tôi muốn vào tù để nói Phật pháp cho những tù nhân".
Trong khoá lễ xuống tóc. Hoà Thượng cổ lệ những người mới vào cửa Phật :"Tu đạo là 'Thầy chỉ có trách nhiệm dẫn tới cửa, tu hành tại mỗi người '. Nếu các con không chuyên tâm tu hành, chẳng dụng công thì dù các con có lạy Đức Phật Thích Ca làm thầy cũng chẳng có ích gì. Các con hãy tự mình nghĩ :'Xuất gia là vì muốn chấm dứt sinh tử, là vì muốn khai ngộ, nếu vẫn giải đãi, không cố gắng tinh tấn tu hành thì xuất gia chẳng có ích gì'. Hôm nay các con xuất gia, tức là bước đầu tiên hướng đến thành Phật, đều phải sớm thành Phật đạo".
Sau khi khoá lễ xuất gia kết thúc, buổi chiều sẽ cử hàh lễ quy y và thọ ngũ giới, thập giới, Thức Xoa Ma Na giới. Trong lúc khoá lễ thì một vị cư sĩ họ Dương (Cô nầy đã khai mở ngũ ngãn. Không những cô ta đã khai mở ngũ nhãn mà cha của cô cũng khai mở ngũ nhãn), đệ tử của Hoà Thượng, đặc biệt từ Trung Quốc gọi điện thoại sang nói :"Tôi và cha của tôi đến núi Phổ Đà để lễ Phật thì gặp một cây cổ thụ (cây Chướng) rất lớn khoảng mấy người ôm. Cây đó nói với tôi rằng : Nó muốn quy y với Hoà Thượng Tuyên Hoá. Tôi cảm thấy rất kỳ quái, mới hỏi nó : Ông ở tại Chùa nầy đã lâu năm, chẳng lẽ không gặp một người nào là người chân chánh tu hành để quy y chăng ? Còn nhất định muốn quy y với Hoà Thượng Tuyên Hoá ?" Cây Chướng nói : Nó chưa gặp một vị chân chánh tu hành để quy y ; trước kia vì nhân duyên không thành thục, bây giờ muốn quy y với Hoà Thượng. Tôi nói :"Vậy thì tốt ! Nhưng đợi để tôi hỏi Hoà Thượng rồi hãy trả lời cho ông hay". Sau đó, tôi về nhà nghỉ ngơi, vì mệt quá nên đã ngủ say, khi tỉnh dậy thì quên mất việc đó, chẳng nói với Hoà Thượng để thỉnh ý Hoà Thượng. Buổi chiều, tôi nghĩ muốn đi Chùa, song le khi xuống lầu, tôi muốn quay đầu nói chuyện với ba tôi thì tự nhiên cái cổ cứng đờ, may là nó không gãy, trong tâm tôi lập tức nghĩ :"Mình có làm việc gì sai chăng ?" Đang suy nghĩ, quay qua thấy cây Chướng ở trong Chùa, liền biết ngay là mình quên thực hiện lời hứa với cây Chướng. Lúc đó cây Chướng nói với tôi :"Sao cô lại sơ ý ? quên mất việc tôi nhờ cô !" Tôi nói : "Xin lỗi, xin lỗi ! Vì trí nhớ của tôi kém quá, ông đừng giận tôi nhé, bây giờ tôi sẽ hỏi Hoà Thượng cho ông". Tôi bèn thỉnh ý Hoà Thượng. Hoà Thượng nói :"Làm hay không làm đệ tử của tôi chẳng quan trọng, chỉ cần làm được 'siêng tu giới định huệ, diệt trừ tham sân si', thì tốt rồi". Tôi chuyển lời đến cây Chướng và thêm :"Chỉ cần ông giữ được sáu đại tông chỉ của Vạn Phật Thành : Không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ, không tư lợi, không nói dối thì dù ông không có duyên gặp Hoà Thượng, ông cũng là đệ tử của Hoà Thượng". Ông ta trả lời là làm được những điều đó, còn phát thệ đại nguyện lực giống như Bồ Tát Quán Thế Âm, tương lai cũng muốn phổ độ chúng sinh. Lúc đó, tôi nhìn thấy ông ta đã thành hình tượng một tiểu Sa Môn, quỳ xuống đất chắp tay lại, và lúc đó Bồ Tát Quán Thế Âm xuất hiện ở phía trên ông ta, dùng nước cam lồ trong tịnh bình quán đảnh cho ông ta, tôi nhìn rồi rất cảm động. Sau khi về nhà tôi thuật lại từng chi tiết cho Hoà Thượng hay. Ông ta tên là Nhân Năng. Tôi hỏi ông ta tu hành thì nương tựa vào đâu mà tu hành ? Ông ta nói ông ta cứ niệm "Tâm Kinh", để nghiên cứu đạo lý trong "Tâm Kinh"; nhưng còn thiếu "minh sư" chỉ điểm, nên không thể hoàn toàn hiểu hết.
Từ khi cư sĩ họ Dương là Phật tử kiền thành lại có thần thông để nói chuyện và hiểu các loài chúng sinh khác, do vậy mà cây Chướng bèn nhờ cô ta, xin Hoà Thượng quy y. Từ đây có minh nhãn thiện tri thức chỉ điểm. Cư sĩ họ Dương đặc biệc hỏi cây Chướng đó là làm thế nào mà ông biết được Hoà Thượng ? Tại sao nhất định muốn quy y với Hoà Thượng ? Cây Chướng nói : Thật đơn giản ! Vì hết thảy tất cả chúng sinh, trên thật tế đều nghe được Hoà Thượng thuyết pháp. Vì lúc Hoà Thượng thuyết pháp thì tận hư không biến pháp giới tất cả chúng sinh đều nghe được, thấy được ; chỉ có những người bị tài, sắc, danh, lợi trói buộc cho nên nghe mà chẳng nghe, nhìn mà chẳng thấy. Còn các chúng sinh khác đều nghe được pháp của Hoà Thượng giảng trong sự yên lặng và tu hành trong sự yên lặng, tài bồi hạt giống bồ đề. Cho nên, ông ta đã nghe Hoà Thượng thuyết pháp từ lâu rồi.
Trước khi kết thúc khoá lễ quy y. Đặc biệt Hoà Thượng khai thị xiển minh quan trọng của sự tu đạo :"Bất cứ bạn là gì , bạn có tư tưởng chân thật, tơ hào chẳng cẩu thả, đừng làm điều mà người đời làm, mà phải đi ngược lại với người thế tục thì bạn sẽ đắc được lợi ích của Phật giáo. Cho nên, các vị xuất gia, tại gia đều phải làm Phật giáo đồ chân chánh, khác với một số người, đừng giống như một số người :Ttranh, tham, cầu, ích kỷ, tư lợi, suốt ngày đến tối chẳng lúc nào mà không nói dối. Đây là điều quang trọng thiết yếu ! Sáu đại tông chỉ nầy là bước thứ nhất học Phật, bước thứ nhất thành Phật, chúng ta đừng quên nó ! Đừng coi thường nó ! Cũng phải học nhiều về sự thiệt thòi, đừng chiếm tiện nghi".
Nguồn : ChuaKimQuang
Subscribe to:
Posts (Atom)