...

Trang Pháp Âm HT Tuyên Hóa


Trang Pháp Âm - Khai Thị - Giảng Kinh của HT Tuyên Hóa , Nhấn vào đây để vào trang chủ

Showing posts with label Thương yêu sự sống. Show all posts
Showing posts with label Thương yêu sự sống. Show all posts

Monday, 26 July 2010

TÌNH THƯƠNG SẼ KHÔNG CÒN - KHI NGƯỜI TA CẦN NGON MIỆNG

Tình thương là cây linh dược trị lành mọi bệnh khổ của chúng sanh. Vậy mà, con người nỡ đang tay bẻ cành chặt nhánh khiến nó sắp lụi tàn. Cũng may! Nó còn sót lại vài cành già và đang nẩy ít chồi non. Mong rằng nhân loại nhận thức được giá trị tuyệt vời của nó, ra công bảo vệ, vun tưới cho nó phát triển sum sê, thật là hạnh phúc vô vàn của nhân loại. Vô tình hay cố ý, chúng ta phá hoại cho cây linh dược tàn lụi đi, đây là một mất mát lớn lao của nhân loại, không có gì bù đắp được. 

Chú Ba nhà ở gần chùa, chú nuôi một con gà mái, đẻ được một đàn gà con. Ðàn gà con mỗi con đều tròn trịa dễ thương. Sáng nào chú cũng hốt một nắm gạo ra đứng trước sân kêu "túc, túc", gà mẹ dẫn đàn gà con chạy ùa ra vây quanh chú, mổ những hạt gạo do chủ rải, chúng nuốt ngon lành. Chú nhìn đàn gà con có vẻ trìu mến. Có lẽ đàn gà con cũng nhìn chú là ông chủ quí kính đang yêu thương nuôi dưỡng chúng. Tình của chú Ba và đàn gà con càng ngày càng sâu đậm hơn. Trải mấy tháng sau, đàn gà con đã lớn thành gà giò (gà vừa ăn thịt). Hôm nay nhà chú Ba có khách, cũng như mọi hôm, sáng chú nắm gạo ra giữa sân đứng kêu "túc, túc", đàn gà chạy lại bu quanh chú, vừa bỏ gạo chúng ăn chú vừa chụp lấy một con. Con gà bị chụp la hoảng lên, đàn gà còn lại chạy tứ tán. Tiếng la thất thanh của con gà không làm động tâm chú chút nào. Sau đó, nó còn bị cột chân, và cuối cùng lôi ra cắt cổ. Tiếng la cứu mạng và gắng sức vùng vẫy đành đạch để thoát chết của con gà, không làm sao lay chuyển được ý định của chú. Thế là xong một đời của con gà, để làm mồi ngon cho người chủ mến thương trước kia. Tình thương của chú Ba đối với đàn gà con, chỉ có khi chưa cần làm thức ăn ngon miệng. Ðến khi cần thịt gà làm thức ăn, thì tình thương ấy liền biến đi như mây khói!
Ở chùa có nuôi hai con chó, một con tên Tiểu Hỷ, một con tên Tu Tu. Sáng nào hai con cũng vật lộn nhau ành ạch ở trước sân, hai đứa săn đuổi nhau, đè cắn cạp nhau một cách thân tình. Mỗi khi trông thấy hai đứa đùa giỡn nhau, tôi cũng vui lây. Dù là súc sanh, chúng cũng biết vui đùa, cũng biết thân yêu nhau như con người nào khác. Song, khi thằng Tiểu Hỷ được quí Cô cho một tô cơm, đang ăn ngon lành, thằng Tu Tu chạy đến gần, thằng Tiểu Hỷ liền nhe răng hầm hừ, thằng Tu Tu đành lấm lét tránh xa. Ngược lại cũng thế, khi thằng Tu Tu đang ăn, thằng Tiểu Hỷ lại gần, cũng bị thằng Tu Tu nhe răng hầm hừ. Sau bữa ăn chúng cũng vui vẻ chơi lại với nhau. Qua hình ảnh hai con chó, chúng ta thấy khi có món ngon, khi cần no bụng mình, tình đồng loại không còn có mặt. Chúng có thương nhau không? Nếu không thương, tại sao lại liếm nhau một cách trìu mến, vật lộn nhau một cách thân tình. Thế mà chỉ cần có một cục xương, một tô cơm, chúng liền đổi tình bạn trở thành địch thù. Tình người có thế không?
Có một gia đình ở tỉnh xa đến qui y với chúng tôi. Thời gian sau, những đứa con khôn lớn, cha mẹ già yếu. Cha mẹ tương đối khá giả, nên làm di chúc chia của cho con. Trong di chúc không biết phân chia thế nào, vài đứa con chạy lên tìm tôi nhờ khuyên giải hộ cho cha mẹ chúng phân chia công bằng, đừng cho đứa nhiều đứa ít, khiến con cái thấy cha mẹ bất công không tốt. Tôi liền khuyên chúng nó: "Cha mẹ sanh ra con, nuôi dưỡng cho học hành đến lớn khôn, lập gia đình có đôi bạn rồi, công ơn cha mẹ không thể nào kể hết. Giả sử cha mẹ nghèo không có tiền của thì con cái cũng phải làm ra tiền để nuôi dưỡng cha mẹ, mới tròn bổn phận làm con. Huống là cha mẹ khá, con đã khỏi nuôi, lại được chia của cho, dù được bao nhiêu cũng tốt, đòi hỏi thêm làm gì để phiền lòng cha mẹ. Tụi con thấy, có lắm gia đình cha mẹ chết sớm, nhà nghèo, con cái cũng phải bươn chải để sống, vậy mà cũng có nhiều người lập nên sự nghiệp. Sánh với tụi con hiện nay quá tốt, cha mẹ còn sống, lại được chia của, dù ít cũng hơn người ta quá nhiều rồi. Thôi, là con hiếu phải nghe lời cha mẹ, đừng phiền trách tổn phước." Chúng không bằng lòng, thưa với tôi thế này: "Thà là không có gì hết, còn có mà chia đứa nhiều đứa ít là bất công, không chấp nhận được." Tôi đành im lặng. Chúng chào tôi ra về với vẻ còn bực tức. Không bao lâu, cha mẹ chúng đến thăm tôi. Nhân khi thăm hỏi, tôi đem việc chia của cho con ra khuyên: "Làm cha mẹ, hai đạo hữu phải xử sự với con cái cho công bằng. Nếu có của nhiều chia cho chúng nhiều, có ít chia cho chúng ít, đừng để đứa nhiều đứa ít nó phân bì không tốt." Hai vợ chồng thưa với tôi: "Bọn con của chúng con, đứa nào phá của thì chúng con chia ít, đứa nào biết giữ của thì chia nhiều, như vậy mới công bằng." Ðến đây tôi hết ý kiến. Thời gian sau, tôi nghe những đứa con được chia của ít, đã kiện cha mẹ chúng ra tòa. Tôi đành thở dài, cảm thấy mình bất lực, không đủ biện tài để giáo hóa đệ tử, thật đáng buồn! Song càng đau buồn hơn khi thấy con người là khôn ngoan hơn con vật, vậy mà cũng vì sự ăn mặc tài sản, đối với người thân trở thành kẻ thù. Thiết nghĩ ai thân hơn anh em, ai tình thâm nghĩa nặng bằng cha mẹ, mà chỉ vì một chút ít tài sản, biến thân thành thù, đổi ân nghĩa thành đối địch. Thật tình đời càng ngẫm càng đau lòng biết mấy!
Nhân loại trên hành tinh này có thật tình thương nhau không? Nếu quốc gia này với quốc gia khác giao hảo tốt đẹp với nhau, khi quốc gia này bị thiên tai bão lụt, hoặc động đất, quốc gia kia liền gởi lương thực, thuốc men, tiền bạc sang giúp đỡ. Ðến khi nào đó, hai nước va chạm quyền lợi nhau, nếu dùng tài ngoại giao bàn luận mà không giải quyết xong, sẽ dùng đến quân đội vũ khí để sát phạt nhau. Người ta thương nhau chỉ khi nào không đụng chạm đến quyền lợi, một khi đụng chạm đến quyền lợi, sẵn sàng sát phạt nhau. Bởi vậy trên thế gian này thân thù thay đổi khó lường. Tình thương của nhân loại bị giới hạn trong một phạm vi nhất định, quá phạm vi đó tình thương liền tan biến. Cho đến những người nhân danh mang tình thương đến cho nhân loại, song cũng bị hạn chế trong những điều kiện nhất định nào đó, ngoài ra nó có thể biến thành địch thù.
Qua những dữ kiện trên, khiến chúng ta nghi ngờ tình thương con người có thật hay không? Hay nó chỉ có trên ngôn từ, ngoài cửa miệng? Ðây là chỗ bi quan của những nhà đạo đức chân chánh, cũng là tiếng còi báo nguy của những người làm việc từ thiện xã hội.
Với con mắt của Phật giáo, muốn nuôi dưỡng tình thương cho được sinh sôi nẩy nở mãi và vượt ra ngoài phạm vi giới hạn, chúng ta phải dùng con mắt trí tuệ thấy rõ thân phận của con người. Sở dĩ chúng ta khép chặt cửa tình thương là bị tham lam cuồng nộ, si mê thôi thúc che đậy. Một khi con mắt trí tuệ mở sáng rồi thì ba con quỉ ác độc ấy bị yếu thế. Từ đó cánh cửa tình thương chúng ta mới mở rộng thênh thang. Làm sao chúng ta mở sáng mắt trí tuệ? Chúng ta phải nhìn xem, phải xét kỹ đời sống con người sự thật như thế nào! Mạng sống của chúng ta được bao lâu? Trong khoảng thời gian sống của chúng ta có an ổn hoàn toàn không? Những người trước chúng ta và đồng thời với chúng ta có thực sự hạnh phúc không? Chỉ cần quán sát kỹ ba vấn đề này thì con mắt trí tuệ của ta bừng sáng.
Trước nhất chúng ta quán sát mạng mình sống được bao lâu? Thật là không có gì bảo đảm và cố định hết. Chúng ta đang sống ở phút giây này là biết mình đang sống, qua phút giây khác chưa biết mình ra sao. Biết bao cái chết chóc đang chờ chực sẵn bên mình và trong người mình. Bước đi sẩy chân cũng có thể té chết. Lái xe sơ ý cũng có thể đụng chết. Ngồi phi cơ hỏng máy cũng bị rơi chết. Một mạch máu não vỡ cũng chết. Quả tim ngưng đập cũng chết v.v... Bởi thế, Phật bảo "mạng người sống trong hơi thở". Ðã biết mạng sống mình là bất định, là vô thường, không có một tí gì bảo đảm, tại sao chúng ta không thương yêu nhau, đùm bọc nhau trong những giờ phút mà chúng ta còn được sống với nhau? Tham lam thù hận để làm gì, để cho ai, khi mạng sống của mình rất mỏng manh rất tạm bợ? Tại sao chúng ta không xí xóa cho nhau, không hòa thuận với nhau để cho những phút giây sống này được an lành vui vẻ. Chính nhờ thấy rõ mạng sống của mình chợt còn chợt mất mà lòng tham lam thù hận tan biến dần, lòng thương nhân loại cùng chung số phận như mình càng rộng mở.
Thứ đến, chúng ta quán sát xem từ khi mở mắt chào đời đến phút giây chúng ta hiện sống này, toàn khoảng thời gian đó đời sống của chúng ta có hoàn toàn an ổn không? Chắc chắn ai cũng trả lời rằng không. Bao nhiêu năm qua, đời sống của chúng ta đã từng trải lắm nỗi gian truân, bao lần đau khổ. Nào là thân thể bệnh hoạn, nào là gặp cảnh bất như ý, nào là làm ăn thất bại, nào là tình đời đen bạc..., ôi làm sao mà kể cho hết. Ðời sống của chúng ta đã khổ như thế, đời sống của người nào có khác gì? Tại sao chúng ta không thương yêu, không thông cảm, cùng chia sớt nỗi khổ cho nhau, lại ôm thù chuốc hận làm gì? Ðã cùng chung thân phận đau khổ như nhau, chúng ta nên khuyên lơn an ủi để làm vơi cạn đôi phần đau khổ cho nhau. Ðây là hoa tình thương đang chớm nở trong lòng chúng ta.
Cuối cùng chúng ta hãy quán sát những người trước và những người đồng thời với chúng ta có ai hoàn toàn hạnh phúc chăng? Những người trước chúng ta, có những kẻ một thời nổi tiếng hào hoa phong nhã, đến nay chỉ còn thân tàn ma dại; có những người một thuở oanh liệt hào hùng, nhưng hiện nay là kẻ phế nhân; có những người trước kia thừa tiền mứa của, nay chỉ còn là kẻ bần hàn... Ðến những người sống đồng thời với chúng ta, có những bạn thân đã từ giã chúng ta đi về thế giới bên kia; có những người đang bị bán thân nằm trên giường bệnh; có những kẻ làm ăn không đủ sống; có những người thừa của thì con cái lại mất nết hư thân... Những kẻ trước và người đương thời kể cả chúng ta có ai dám bảo rằng "đời tôi hoàn toàn hạnh phúc". Cuộc đời đã không hạnh phúc thì chúng ta say mê nó để làm gì? Tại sao chúng ta không đánh thức nhau, lay tỉnh nhau, đừng để cạm bẫy của cuộc đời lừa. Hạnh phúc của cuộc đời chỉ là cái bóng mờ trước mắt, đuổi bắt chúng chỉ chuốc nhọc nhằn. Vì tranh nhau đuổi bắt hạnh phúc nên con người phải va chạm nhau, nảy sanh oán hờn, thù địch nhau, tạo thành chuỗi khổ đau vô tận. Chúng ta xét kỹ, thấy rõ rồi cố gắng đánh thức, kêu gọi nhau hãy dừng chân, đừng đuổi bắt vô ích. Ðây là tình thương chân thật phát xuất từ đáy lòng của chúng ta.
Qua ba phần quán sát trên khiến chúng ta mở sáng con mắt trí tuệ, từ đây dấy khởi tình thương chân thật. Chính tình thương này mới không bị giới hạn, không có điều kiện hạn chế, và mở rộng thênh thang. Nhờ trí tuệ sáng ngời này, ba thứ độc tham sân si mới chịu lui bước. Song muốn có trí tuệ, chúng ta phải có những giây phút an tĩnh, ngồi lại quán sát tận tường. Chúng ta đừng bị suốt ngày chôn mình trên bàn giấy, trong cơ xưởng, tối lại dán mắt trên màn ảnh Ti-vi, thì trí tuệ chúng ta không có cơ hội phát triển.
Tuy nhiên cội nguồn tình thương chưa hẳn khô cạn, vẫn còn những mạch nước ngầm trong lòng đất nhân loại mà chúng ta ít khi khơi dậy. Chính đây là những tia hy vọng của con người, của những nhà đạo đức chân chính.
Một bà Phật tử thuật chuyện cho tôi nghe: Bà là người đang sống ở đô thị, quê bà ở tỉnh Vĩnh Long cách xa tỉnh khoảng hai chục cây số. Một lần bà về quê, đến tỉnh Vĩnh Long sang xe về quê bà. Một chiếc xe cũ kỹ mà hành khách chật như nêm, xe chạy khỏi tỉnh khoảng năm cây số, có một hành khách đón xe giữa đường. Xe dừng rước khách, bà thấy một cậu thanh niên độ trên hai mươi tuổi, mặc quần cụt, áo sơ mi. Chú lơ xe thúc lên nhanh, cậu thanh niên vội vàng phóng lên xe, chân chạm phải cánh cửa xe, toác da đổ máu. Cậu ta ngồi xuống bên cạnh bà mà vết thương ở bắp chân vẫn tuôn máu. Bà trông thấy liền mở túi xách lục soát tìm được một ít bông gòn, bà xé đưa cậu ta bảo chặm máu và đè cứng chỗ vết thương. Bà lục trong túi được chai thuốc đỏ, mớ bông gòn còn lại bà thấm thuốc đỏ đắp lên vết thương. Thấy máu còn chảy, bà lôi chiếc khăn tay trong túi ra, xé đôi, băng nịt lại thật chặt. Kế còn thừa một ít bông gòn, bà thấm thuốc đỏ lau chung quanh vết thương cho cậu. Cậu thanh niên được bà cụ bảy muơi tuổi săn sóc vết thương một cách nhiệt tình chân thiết, khiến đôi mắt cậu nhìn bà với vẻ ngạc nhiên kính quí. Mọi người trên xe đều hướng mắt nhìn bà với cái nhìn mến phục. Ðến điểm xuống xe, cậu thanh niên bước xuống trước, vết thương ở chân đã khô máu, bà cụ xuống sau. Cậu chờ bà cụ xuống xong, cúi đầu chào bà rồi mới ra đi, đi một đoạn cậu còn nhìn xem bà lão đi về lối nào!
Cũng bà Phật tử trên, bà dẫn một đứa cháu ngoại trai độ mười ba tuổi lên Tu viện Chân Không thăm chúng tôi. Gặp lúc chư Tăng xẻ mít chín, nhằm loại mít ngon nhất vườn chùa để dùng trong nửa giờ nghỉ công tác, thầy Tri khách chia hai bà cháu một phần khiêm nhường dùng lấy thảo. Hai bà cháu dùng độ muời múi mít, còn lại một phần ba, bà bảo cháu: "Bà cháu mình nhường một phần ba này để cho người ăn xin." Thằng bé đang ăn ngon miệng đành phải dừng tay. Bà đi tìm một bao nylon rửa sạch, lột từng múi mít bỏ vào bao nylon, xong xuôi bà cột lại để vào túi xách. Vài giờ sau, hai bà cháu từ giã chúng tôi xuống chợ về thành phố. Xuống chợ, bà đi tìm những người ăn xin tặng mít cho họ xong, bà mới lên xe về. Mấy múi mít thật không có giá trị bao nhiêu, nhưng khi mình đang ăn ngon miệng mà nhớ đến những người ăn xin ở đầu đường xó chợ không được nếm món ăn này, bà liền dừng tay, ngăn cháu để nhường phần cho những người xấu số ấy. Thật là một tấm lòng vàng ngọc, một tình thương tràn trề ở thế gian này ít thấy. Thử nghĩ nếu tất cả chúng ta đều có một tình thương vô hạn như bà thì xã hội đang nghèo khó của chúng ta sẽ giảm khổ đau biết mấy. Còn nhiều người có tấm lòng vàng như bà, hoặc trội hơn, mà chúng tôi chưa biết, có khi đã biết mà lại quên. Mong rằng nhân loại sẽ được nhiều người luôn nhớ đến những kẻ khổ đau, để chia cơm xẻ áo với họ, khiến hành tinh chúng ta sẽ trở thành cõi Cực lạc ở mai sau.
Tình thương vô điều kiện không giới hạn, nhà Phật gọi là tâm từ bi. Tâm từ bi này nhờ động cơ trí tuệ thúc đẩy mới đủ sức đập tan những cánh cửa bản ngã, gia đình, phe nhóm, tôn giáo, quốc gia... mở rộng thênh thang không giới hạn. Người sẵn tâm từ bi thì, khi mình được ăn ngon nhớ đến kẻ đói khát, mình thành công thương người thất bại, mình vui sướng nhớ đến kẻ khổ đau, mình giàu sang nghĩ đến kẻ nghèo khó, mình hơn thương kẻ thua..., do đó mà dứt được tâm ích kỷ ngạo mạn. Nhân loại đang đau khổ lắm rồi, chúng ta không thể dang tay cứu vớt hết được, ít ra chúng ta cũng đừng chồng chất khổ đau thêm, khiến quá sức chịu đựng của con người. Chúng ta hãy kêu gọi nhau thức tỉnh cơn ngủ si mê, đừng chạy theo tham lam cuồng nộ, dừng tay gieo rắc đau khổ lên nhau. Hạnh phúc không bao giờ có nơi con người ích kỷ tham lam. Hạnh phúc không bao giờ có ở con người si mê cuồng nộ. Hạnh phúc chỉ có với người luôn chan rải tình thương. 

Nguồn : Thiền Viện Thường Chiếu

Saturday, 5 June 2010

Nhiễm độc chì, 163 người chết ở Nigeria


TTO - Ít nhất 163 người, trong đó có 111 trẻ em, đã thiệt mạng do nhiễm độc chì tại các mỏ khai thác vàng trong năm tháng qua ở miền bắc Nigeria, nguồn tin từ chính quyền cho biết.
Trẻ em nhiễm độc chì do sống gần nhà máy hóa chất ở Xian, Trung Quốc - Ảnh: AP
“Các vụ nhiễm độc chì ở bang Zamfara là hậu quả của hoạt động đào vàng bất hợp pháp”, hãng tin AFP dẫn lời chuyên gia dịch bệnh Henry Akpan thuộc Bộ Y tế Nigeria khẳng định. Ông Akpan cho biết dịch nhiễm độc chì đang hoành hành tại năm làng thuộc hai khu vực Anka và Bungudu.
Dù kinh tế rất nghèo, nhưng tỉnh Zamfara giàu các loại khoáng sản như vàng, đồng, quặng sắt, mangan… Tổng thống Nigeria Goodluck Jonathan vừa đến khai trương một nhà máy xử lý khoáng sản tại đây và chính quyền tỉnh đã lên nhiều dự án thu hút đầu tư.
Theo Reuters, tổng cộng có 355 trường hợp nhiễm độc chì. “Người nhiễm độc bị đau bụng, buồn nôn, choáng váng, co giật”, chuyên gia Akpan cho biết. “Tỷ lệ tử vong của dịch nhiễm độc chì là 46%. Phần lớn các nạn nhân đều đi đào vàng tại các mỏ vàng bất hợp pháp”. Các nạn nhân đều thiệt mạng sau khi tiếp xúc với các dụng cụ đào vàng, đất, nước có lượng chì rất cao.
Reuters cho biết chính quyền Nigeria đã kêu gọi các tổ chức quốc tế, trong đó có Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Trung tâm kiểm soát và phòng chống dịch bệnh Mỹ (CDC), đến giúp ngăn chặn dịch nhiễm độc chì lây lan.
Mới đây, bác sĩ Olaokun Soyinka, quan chức WHO, cho biết WHO đã cử một số chuyên gia đến Nigeria cùng các nhân viên CDC và quan chức chính phủ Nigeria để đánh giá mức độ nguy hiểm của dịch nhiễm độc chì và điều tra xem liệu nguyên nhân tử vong có liên quan đến các chất hóa học nào khác hay không.
Các chuyên gia y tế cho biết chì có thể hủy hoại nhiều hệ thống trong cơ thể người như hệ thần kinh, gan, cơ quan sinh sản. Chì đặc biệt nguy hại đối với trẻ em và phụ nữ có thai.
HIẾU TRUNG

Friday, 4 June 2010

Động vật gặp họa vì tràn dầu

Mạng sống của chim, cá, rùa và nhiều động vật biển khác trở nên mong manh hơn bao giờ hết bởi thảm họa tràn dầu trên vịnh Mexico trong hơn một tháng qua.

Một con chim ngoi lên
Dầu phủ kín một con chim gần đảo East Grand Terre, bang Louisiana, Mỹ. Ảnh: AP.
Một con chim khác gần đó giẫy
Một con chim khác gần đó giẫy dụa trong vô vọng. Ảnh: AP.
Con chim bồ nông gần đảo East Grand Terre, bang Louisiana biến thành màu nâu vì dầu vào ngày 3/6. Ảnh: AP.
Một con bồ nông khác gần đó vẫn cố gắng kiếm mồi. Ảnh: AP.
Kể từ khi dầu bắt đầu tràn trên vịnh Mexico
Kể từ khi dầu bắt đầu tràn trên vịnh Mexico, các nhà khoa học và lực lượng tuần duyên Mỹ tìm thấy ít nhất 293 con chim chết hoặc và hàng trăm con bị thương trên các bãi biển. Ảnh: AP.
Không chỉ cản trở khả năng bay của chim, dầu còn có thể 
gây hại cho các hệ tiêu hóa, tuần hoàn và miễn dịch của chúng.
Không chỉ cản trở khả năng bay của chim, dầu còn có thể gây hại cho các hệ tiêu hóa, tuần hoàn và miễn dịch của chúng. Ảnh: AP.
Mòng biển gặp bữa ăn thịnh soạn khi xác một con cá chết vì
 dầu dạt vào bờ. Ảnh
Mòng biển gặp bữa ăn thịnh soạn khi xác một con cá chết vì dầu dạt vào bờ trong ngày 28/5. Các nhà khoa học không thể thống kê chính xác số lượng động vật chết trong thảm họa tràn dầu, vì nhiều con bị ăn thịt trước khi người ta phát hiện ra chúng. Ảnh: The Washington Post.
Một con rùa biển kiếm ăn trong làn nước phủ dầu gần đảo South Pass, bang Louisiana vào ngày 5/5. Kể từ khi dầu bắt đầu tràn, người ta tìm thấy ít nhất 186 con rùa biển, trong đó phần lớn đã chết. Ảnh: The Washington Post.
Hai nhà khoa học nhặt xác một con rùa biển chết trên bờ biển tại thành phố Pass Christian, bang Mississippi, Mỹ vào ngày 2/5. Ảnh: AP.
Cuộc sống của những đàn bồ nông
Cuộc sống của những đàn bồ nông và mòng biển bị đe dọa nghiêm trọng bởi chúng gặp khó khăn khi kiếm mồi tại những vùng nước bị phủ bởi dầu. Ảnh: AP.
Minh Long

Friday, 28 May 2010

Xin đừng man rợ và thờ ơ - Phạm Xuân Nguyên


TT - Tin tức về những con voi rừng bị giết, bị đầu độc một lần nữa gióng lên hồi chuông báo động và cảnh tỉnh chúng ta. Voi là giống vật lớn, sống sót sau quá trình chọn lọc tự nhiên diễn ra hàng triệu triệu năm. Nhưng đến giờ, có thể chỉ trong một tích tắc nữa của lịch sử Trái đất, giống loài này sẽ tuyệt diệt cùng với nhiều giống loài khác.
Do con người. Những ai thích văn thơ hẳn còn nhớ hình ảnh đẹp về voi trong thơ Nguyên Hồng “Ngẫm nghĩ voi đi/ Thác Khôn cười trắng xóa”, hay trong thơ Tố Hữu “Voi đi lững thững bình yên/ Bỗng ngơ ngác đứng bom rền xa xa”. Những cảnh tượng này giờ đây đã hiếm hoi lắm rồi, nếu không nói là đã bị mất hẳn. Thay vào đó là cảnh những con voi độc, những bầy voi bất thần kéo về phá nát ruộng nương, quần xéo con người. Voi nổi giận. Và thiên nhiên báo thù.
Con người hiện đại đang sống trong một môi trường mất cân bằng sinh thái nghiêm trọng. Chúng ta ngày càng quên đi một điều cơ bản đơn giản: con người thuộc về giới tự nhiên, là một bộ phận của giới tự nhiên. Trước khi là một sinh vật xã hội, con người là một sinh vật tự nhiên. Tách khỏi tự nhiên, chúng ta không tồn tại được. Bầu khí quyển đang bị ô nhiễm. Nguồn nước đang bị ô nhiễm và cạn kiệt. Các loài cây, các giống vật đang bị triệt tiêu, diệt chủng. Thiên nhiên mất cân bằng thì con người cũng bị mất cân bằng. Chúng ta đang chứng kiến hằng ngày, hằng giờ hậu quả tàn khốc từ việc con người tự diệt mình thông qua tiêu diệt thiên nhiên.
Những kẻ tàn sát thiên nhiên như vậy dù sống trong xã hội văn minh nhưng đích thực là những kẻ man rợ. Không thể dùng một từ nào khác hơn. Man rợ, những kẻ người dùng các loại vũ khí hiện đại để giết các con vật hoang dã. Man rợ, những kẻ người lăm lăm dao búa lùng tìm chặt những thứ cây quý. Nhưng còn đáng sợ hơn là sự vô cảm của cộng đồng trước những hành động man rợ đó. Ở Hà Nội, khu Bách thảo, những xâu chim vặt lông được bày bán, những con chim nhỏ đỏ hỏn được người bán giơ lên chào mời. Sẽ thấy ra vì sao thành phố vắng bóng chim, thiếu tiếng chim. Xa hơn nữa, từ đó mới hiểu vì sao có những con voi bị hạ, những con bò tót bị bắn. Mà người ta cứ dửng dưng, cứ cho là của trời đất, mất rồi lại có.
Phải làm gì đây? Câu hỏi đã được nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Nhiều biện pháp, giải pháp đã được đưa ra và thực hiện, nhưng sự man rợ của con người đối với thiên nhiên chừng như vẫn không hề suy giảm. Phải chăng trong khi vẫn quyết liệt và mạnh mẽ thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo vệ thiên nhiên, thì xã hội và nhất là trong nhà trường, cần hướng con người về lại tự nhiên, tập sống lại trong thiên nhiên và với thiên nhiên.
Bắt đầu là từ việc tôn trọng thiên nhiên khi quy hoạch cuộc sống con người. Hãy tính đến thiên nhiên trong mỗi việc làm, vì có việc làm nào của con người mà không diễn ra trong thiên nhiên, mà không động chạm đến thiên nhiên. Từ thiên nhiên nhỏ trong nhà mình đến thiên nhiên rộng ở làng quê, thành phố và ra cả Trái đất. Vì sao ai bắt mất con mèo nhà mình thì ta đau khổ, căm tức, mà một con voi ở rừng bị đầu độc, bị bắn hạ thì ta coi như chẳng liên quan? Con voi đó cũng là của nhà mình - ngôi nhà đất nước, ngôi nhà Trái đất.
Xin đừng quên những lời này của cha đẻ thuyết tiến hóa: “Không có sự khác biệt lớn giữa con người và các động vật cấp thấp về năng lực tinh thần... Các loài vật cấp thấp, giống như con người, cũng có cảm giác vui sướng và đau khổ, hạnh phúc và khốn cùng” (Charles Darwin).
PHẠM XUÂN NGUYÊN

Sunday, 16 May 2010

NGƯỜI GIỮ LƯỚI THẢ THỎ

Lục tổ Huệ Năng là một vị cao Tăng đức độ, Ngài đã được Ngũ tổ Hoằng Nhẫn tại Hoàng Mai truyền trao tâm ấn. Bình thường, Ngài quan sát thấy cảnh nhân tình phân nửa đã phạm vào tội sát sinh, do đó tội lỗi nặng nề khó tránh được quả báo. Ngài thường khuyên răn mọi người không nên sát sinh để tránh đau khổ, song đa số lại chấp trước mê muội nên không biết ăn năn chừa bỏ.
Càng về sau, nhận thấy những người thợ săn giết hại quá nhiều sinh linh, trong tâm không cầm được xúc động, Ngài liền hóa trang thành người thế tục, ở ẩn trong nhóm thợ săn. Lúc sống với họ, Ngài được giao cho nhiệm vụ giữ lưới và thật đúng với tâm nguyện của Ngài. Cứ mỗi lần nhóm thợ săn săn được nai thỏ, tận mắt chứng kiến vẻ mặt đau thương của những con vật sắp bị giết, mà trong lòng Ngài càng xót thương cho chúng vô hạn, và rồi Ngài âm thầm rơi lệ.
Cứ mỗi lần thỏ hay nai mắc vào lưới, nếu có thể cứu sống được chúng là Ngài tìm cách thả chúng ngay. Sống với nhóm thợ săn hơn mười năm trường, Ngài mới thật sự cảm hóa được họ và giúp thay đổi nghề nghiệp. Chẳng bao lâu sau, tại đạo tràng Tào Khê, Ngài chính thức xuất gia rộng độ chúng sinh. Nhân sĩ khắp nơi nghe danh tiếng của Ngài đều về Tào Khê quy y và bái Ngài làm thầy. Về sau, giáo pháp của Ngài được đệ tử truyền theo năm hướng, ân đức thấm nhuần mười phương, khiến cho hàng trăm triệu người mến phục và quy hướng. 

Thursday, 13 May 2010

CỨU CHIM HOÀNG YẾN ĐƯỢC VÀNG NGỌC

Vào thời nhà Hán, trong một vùng núi phía Bắc Hoa Âm có một gia đình họï Dương nọ, cha mẹ đều làm nghề nông. Họ chỉ có một người con tên là Dương Bảo. Dương Bảo bản chất thông minh và lanh lợi, mặt mày thanh tú, đầu cột hai búi tóc, ai thấy cũng mến thương. 
Dương Bảo sinh ra vốn đã có đức tính từ bi. Năm cậu lên chín tuổi, tự nhiên lại rất yêu thích phong cảnh thiên nhiên và thường thường lấy cảnh núi rừng làm bầu bạn. Vào ngày nọ, cậu vừa đi đến trước một ngôi nhà nằm bên sườn núi, bất chợt nghe tiếng chim hoàng yến từ đâu kêu lên những tiếng thất thanh. Ngẩng đầu nhìn lên không trung thì Dương Bảo bất chợt nhìn thấy một con chim cú mèo đang vội vã vồ lấy một chú chim hoàng yến. Vì cú mèo ta phát hiện có người nên nhả con mồi ra khỏi nanh vuốt. Chim hoàng yến bị thương rơi xuống đất. Sau khi rơi xuống đất lại tiếp tục bị kiến bao vây, coi như cầm chắc cái chết. Dương Bảo thấy thế vội vàng chạy đến gần, ấp ủ chim hoàng yến trong lòng tay, kiến do đó giải tán. Cậu ta vội mang chim về nhà, nuôi dưỡng trong một lồng bằng trúc, hết lòng chăm sóc và trị vết thương cho chim. Sau khi chim lành hẳn thì đem nó vào rừng phóng thích. 

Vào một đêm nọ, Dương Bảo nằm mơ thấy một Tiểu đồng mặc áo vàng hướng về cậu ta lạy tạ về ân cứu mạng, vả lại còn tặng cho cậu bốn vòng ngọc trắng, còn nói:
- Thưa ân nhân, tôi chính là Sứ giả của Vương Mẫu. Không có gì có thể đền trả ân sâu cứu mạng của ân nhân, tôi chỉ có bốn vòng ngọc xin tặng ân nhân. Ngoài ra, xin chúc phúc cho con cháu của ân nhân được thanh liêm và thăng quan tiến chức!
Lúc đầu, Dương Bảo một mực từ chối nhận quà tặng của Tiểu đồng, nhưng vì Tiểu đồng quá tha thiết và thành khẩn, sau cùng cậu ta mới dám nhận. Ngay lập tức, cậu ta tỉnh dậy mới biết là giấc mơ, nhưng trong thâm tâm cảm thấy kỳ lạ, miệng nhẩm:
- Thật là một giấc mơ kỳ lạ! Thật là một giấc mơ kỳ lạ!
Về sau, quả thật con cháu của Dương Bảo bốn đời đều làm chức cao quyền lớn, nổi tiếng một thời.

Monday, 10 May 2010

ĐÀO AO PHÓNG SINH

Trên núi Thiên Thai, núi non trùng điệp, cây cối xanh tươi tựa như một bức bình phong, phong cảnh hữu tình thơ mộng.
Chính tại vùng núi cao ngất này có một ngôi chùa, trụ trì chùa này có pháp hiệu là Trí Giả đại sư, húy là Trí Khải. Tùy Dạng Đế do cảm mến đức độ của Ngài mà ban cho pháp hiệu là Trí Giả. Vì thương xót cho nhân tâm đương thời quá ư thô bạo, sát hại nhiều sinh linh chỉ vì việc khoái khẩu, để cảm hóa nhân tâm, Ngài đã mang bình bát đi hóa duyên khắp đây đó.
Trải qua hơn chục năm tâm huyết, số tiền kiếm được đã khá đủ, do đó Ngài thuê người đào ao phóng sinh.
Trong khi tiến hành công việc đào ao, đã có nhiều người mỉa mai chê cười Ngài là một vị Hòa thượng ngu si. Song, mặc cho miệng thế chê cười, Ngài vẫn tiến hành công trình đào ao. Cứ sau mỗi giờ giải lao của công nhân, Ngài đều giảng giải Phật pháp cho họ nghe. Ngài nói:
- Trong kinh Phật thường dạy: “Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh”, cho nên, từ mỗi con cá cho đến con cua đều có thể thành Phật. Vì thế, tất cả muôn thú cũng đều có Phật tánh. Nếu tình cờ chúng ta bắt gặp dã thú giết hại một người nào đó thì chúng ta đều cảm thấy thương xót cho nạn nhân. Cũng như thế, khi chúng ta giết một con cá hay một con vật nào đó thì đồng loại của chúng lẽ nào lại không có thương đau về sự việc sinh ly tử biệt hay sao? 

KÊU THAN SUỐT BA THÁNG

Ánh đèn leo lét như hạt đậu, chập chờn đong đưa theo chiều gió. Người ta thấy trong quán thịt chó không còn một ghế trống. Những người thích ăn thịt chó cứ liên hồi gọi chủ quán, do đó tạo nên một không khí náo nhiệt lạ thường.
Bên phải ở phía sau quán, Tào Thăng Nguyên mang một con chó đã bị giết chết bỏ vào trong một cái chum. Y lấy nghề giết chó làm kế sinh nhai, lại mở ra quán bán thịt chó, công việc buôn bán quả nhiên trở nên phát đạt. Y lại thuê thêm một người giúp việc. Người này cao hứng thì thầm với y:  

GIẾT TRÂU BỊ ĐỨT LƯỠI

Từ trong một cửa tiệm sơ sài, đột nhiên mọi người nghe thấy một tiếng hét lên thê thảm, tiếp theo là tiếng đánh huỵch của một người ngã xuống đất, miệng tràn đầy máu tươi. Khi mọi người chạy đến thì người này đã ngã lăn ra đất chết, anh ta chính là Tu Đại, một người hàng ngày lấy nghề giết trâu làm kế sinh nhai.
Tu Đại chết một cách rất thê thảm, đã bị một con dao sắc mà thường ngày anh ta dùng để giết trâu cắt đứt ngang lưỡi mà chết. Vì thế, mọi người khắp đầu đường cuối hẻm không ai không bàn luận về cái chết bất ngờ của Tu Đại. 

Sunday, 9 May 2010

LƯƠN CẦU XIN THA MẠNG

Vào đời nhà Minh, niên hiệu Vạn Lịch, tại Hồ Thự, Hàng Châu có một gia đình phú hộ họ Vu nọ, bình thường rất thích làm việc thiện, bố thí và không ưa việc sát sinh.
Vào một năm, có một gia đình hàng xóm bị mắt cắp, nhà họ Vu mới đem đồ cứu trợ giúp đỡ. Người phụ nữ nhà hàng xóm rất biết ơn và rất cảm tình trước nghĩa cử ân cần cao quý của nhà họ Vu. Ngày kia, người phụ nữ này liền mang đến mười con lươn còn sống thật lớn để biếu cho người mẹ phú hộ dùng lấy thảo. Vốn là một gia đình không thích sát sinh nên người mẹ mới sai người mang lươn thả vào một cái chậu nước để chuẩn bị phóng sinh. Nhưng do quá bận rộn công việc mà bà đã quên đi những chú lươn này. 

Ít lâu sau, vào một đêm nọ, bà nằm mơ thấy có khoảng mười người mặc và đội mũ nhọn màu vàng, đột nhiên bước vào phòng mình, quỳ xuống thưa:
- Kính xin Thái phu nhân mở rộng lòng từ mà ban cho chúng tôi một con đường sống!
Những người đó sau khi thưa xong thì liền quay đi. Thái phu nhân lập tức tỉnh giấc, trong lòng cảm thấy bất an, lo âu trăm bề không biết phải nên cứu mạng cho người nào? Do đó mới thỉnh thầy bói xem cho một quẻ, đoán trước vận mệnh tốt hay xấu. Thầy bói sau khi xem xong, liền thưa:
- Thái phu nhân không có gì phải lo sợ, việc xảy ra không có gì xấu mà chỉ là một điềm tốt. Chẳng qua có người cầu xin bà phóng thích và những người đó hiện tại ở trong phủ mà thôi!
Sau đó, bà ra lệnh cho gia nhân tìm kiếm khắp mọi nơi trong và ngoài nhà, cuối cùng phát hiện trong một cái chậu có nuôi mười con lươn lớn và số lượng giống như mười người mặc áo và đội mũ vàng. Bà thất sắc, sợ hãi nói:
- Chao ôi! Suýt nữa ta đã giết hại mười sinh mạng rồi!
Thế rồi, sau đó tức khắc đem tất cả lươn thả xuống một cái hồ. Về sau con cháu nhà họ Vu càng giàu có và thịnh vượng.

PHẬT CẮT THỊT NUÔI CHIM ƯNG

Trời quang xanh ngắt một màu, ánh nắng mặt trời chiếu sáng khắp muôn nơi, cảnh vật tươi vui nhộn nhịp như thu hút và hấp dẫn lòng người. Đức Phật bước từng bước thong dong trong chánh niệm từ từ tiến vào rừng. Ngài bất chợt bắt gặp một con chim ưng đang rượt đuổi một chú bồ câu trắng. Chim bồ câu nguy hiểm vạn phần. Nhìn thấy Phật đi qua, chim ta vội vàng sà vào lòng đức Phật để lánh nạn. Đức Phật với tâm từ đã bảo vệ cho chim bồ câu.
Chim ưng liền sà cánh đậu trên một cành cây liền than: 

CỨU CHIM HOÀNG YẾN ĐƯỢC VÀNG NGỌC

Vào thời nhà Hán, trong một vùng núi phía Bắc Hoa Âm có một gia đình họï Dương nọ, cha mẹ đều làm nghề nông. Họ chỉ có một người con tên là Dương Bảo. Dương Bảo bản chất thông minh và lanh lợi, mặt mày thanh tú, đầu cột hai búi tóc, ai thấy cũng mến thương.
Dương Bảo sinh ra vốn đã có đức tính từ bi. Năm cậu lên chín tuổi, tự nhiên lại rất yêu thích phong cảnh thiên nhiên và thường thường lấy cảnh núi rừng làm bầu bạn. Vào ngày nọ, cậu vừa đi đến trước một ngôi nhà nằm bên sườn núi, bất chợt nghe tiếng chim hoàng yến từ đâu kêu lên những tiếng thất thanh. Ngẩng đầu nhìn lên không trung thì Dương Bảo bất chợt nhìn thấy một con chim cú mèo đang vội vã vồ lấy một chú chim hoàng yến. Vì cú mèo ta phát hiện có người nên nhả con mồi ra khỏi nanh vuốt. Chim hoàng yến bị thương rơi xuống đất. Sau khi rơi xuống đất lại tiếp tục bị kiến bao vây, coi như cầm chắc cái chết. Dương Bảo thấy thế vội vàng chạy đến gần, ấp ủ chim hoàng yến trong lòng tay, kiến do đó giải tán. Cậu ta vội mang chim về nhà, nuôi dưỡng trong một lồng bằng trúc, hết lòng chăm sóc và trị vết thương cho chim. Sau khi chim lành hẳn thì đem nó vào rừng phóng thích. 

DÙNG VOI CHỞ NƯỚC

Cách đây hơn hai nghìn năm trước, tại nước Ấn Độ, trong một vùng nước chảy, có một cái hồ nọ nằm dưới một chân núi. Trong hồ có nhiều loại cá sinh sống, chúng háo hức rượt đuổi nhau vui chơi không thôi. Đã lâu trời nắng hạn, chưa có được một trận mưa. Nước trong hồ mỗi ngày một khô cạn dần. Các loài cá trong hồ sắp sửa bị thiêu chết dưới cái nắng nóng của mặt trời khô hạn và không con cá nào có thể may mắn tránh khỏi.

Vào ngày nọ, trời nắng chang chang, có một người tên là Trương Giả Tử. Ông ta ngẫu nhiên đi đến bên bờ hồ, tận mắt chứng kiến cảnh hồ nước khô cạn mà tâm từ bi phát khởi. Ông lập tức trở về cầu kiến đức vua và tâu:
- Muôn tâu Bệ hạ! Nước trong hồ kia do hạn hán nên đang cạn dần, tất cả mạng sống của cá trong hồ đang bị đe dọa. Cầu xin Bệ hạ cho hai mươi voi lớn chở nước đến đổ vào hồ để cứu lấy mạng cho chúng thoát khỏi cảnh nguy nan này!
Đức vua vốn là người đã quy y Tam Bảo từ lâu, nghe qua lời thỉnh cầu của ông liền khen ngợi:
- Thật là hiếm người có được lòng thương yêu sự sống như ông, ông có thể đến chuồng mà tùy ý lựa chọn voi để chở nước cứu cho cá trong hồ thoát khỏi cái chết!
Trương Giả Tử lập tức cùng hai người con của mình vào trong chuồng voi chọn hai mươi con voi lớn, rồi vội vàng đến một quán rượu mượn nhiều túi đựng rượu. Sau đó, ba cha con cùng đến bên một con sông múc đầy nước vào các túi, rồi cho voi chở nước đổ vào hồ. Công việc diễn ra rất lâu thì nước trong hồ từ từ đầy lại như trước. Các loài cá trong hồ gặp được nước đầy rất hân hoan hớn hở, chúng rượt đuổi nhau chạy nhảy vui chơi, trông thật đầm ấm và chan hòa.
Trương Giả Tử tận mắt chứng kiến cảnh cá được cứu sống tung tăng chạy nhảy trong làn nước xanh trong dưới bóng vàng của chiều hôm, mà bao nhiêu buồn lo u sầu, phiền não gian khổ đều tan mất. Mặt trời từ từ khuất dần sau dãy núi phía Tây, mệt mỏi nhẹ dần, tâm tình vui vẻ, Trương Giả Tử mặt mày hớn hở cùng hai người con cưỡi voi trở về nhà.

CỨU NAI THOÁT ĐƯỢC TAI NẠN

Dòng suối nước chảy rì rào, rừng núi cây cối xanh tươi, muôn vật hoa thơm cỏ lạ như muốn đua nhau khoe hương sắc, tất cả tạo thành một khối điểm xuyết trong rực rỡ và đẹp đẽ lạ kỳ.
Ánh bình minh bắt đầu ló rạng. Một chú nai bất chợt xuất hiện lao thẳng vào một gian phòng nhà nọ, rồi dùng hai sừng của mình nhấc bổng đứa bé trai lên khỏi mặt đất. Đứa bé sợ hãi khóc ré lên. Người phụ nữ từ gian phòng bên cạnh vội vàng chạy ra, nai ta sợ hãi vội mang đứa bé chạy. Người phụ nữ thất kinh tái mặt sợ hãi không thôi, lập tức đuổi theo nai vào rừng. Rồi chị ta phát hiện con mình bình yên vô sự, nó đang ngồi trên một đám cỏ. Thấy mẹ đến, nó phấn khởi vui mừng. Người mẹ bế con vào lòng mừng vui lẫn lộn.     

Saturday, 8 May 2010

BẢO VỆ SINH MẠNG ĐƯỢC LỢI ÍCH TRƯỜNG THỌ

Tại tỉnh Ôn Châu, Trung Quốc (nay là tỉnh Chiết Giang), có một người họ Tiêu tên gọi là Chấn. Lúc còn nhỏ, vào một đêm nọ, ông nằm mộng thấy một vị thần Kim Cang nói với ông:
- Này đứa bé kia, thọ mạng của con chỉ sống đến 8 tuổi mà thôi!
Sau khi tỉnh giấc, Tiêu Chấn trong lòng như lửa đốt, tâm lúc nào cũng buồn khổ, lo lắng. Cha của ông là một vị quan thanh liêm và được cử đến Tứ Xuyên nhậm chức. Lúc đó, Tiêu Chấn biết mình sống chẳng được bao lâu trên đời này nên không muốn đi với cha. Cha ông nhất quyết đưa ông theo bên cạnh để tiện bề lo việc săn sóc. 


TỬ SẢN NUÔI CÁ

Vào thời Xuân Thu, tại nước Trịnh có một vị đại phu, người ta thường gọi ông là Tử Sản. Ông là một con người nhân hậu thường hay giúp đỡ người nghèo khổ vượt khỏi hoàn cảnh nguy khó. Hành vi cao cả, hào hiệp của ông được người người ca ngợi, tán tụng và đức độ của ông ngày một lan xa. Suốt đời, ông chỉ thích làm việc bố thí, nhất là không ưa thích việc sát sinh.

Một ngày nọ, có một người bạn biếu cho ông một số cá còn sống. Loại cá này rất ngon, ai cũng xem nó như món ăn quý. Tư Sản đón nhận món quà của người bạn với tấm lòng chân thành và vui vẻ. Sau đó, ông gọi người nô bộc đến và nói:


VUA THÀNH THANG MỞ LƯỚI

Ngày xưa, vào thời nhà Thương, vua Thành Thang được xem là người khéo trị vì nhân dân trong nước. Mỗi năm, đức vua tự mình xa giá nhiều lần để thăm hỏi sự khó khăn và đau khổ của dân tình nhằm sửa đổi chính sách trị dân, giải cứu nghèo khó, bệnh tật cho dân.

Vào một ngày nọ, trời quang mây tạnh, các loài chim đua nhau ca hót, muôn thú háo hức tung tăng chạy nhảy vui đùa. Đức vua đi đến một vùng nọ để thị sát thì trông thấy một người săn. Người này đang chỉ huy đồng bọn đặt bẫy và giăng lưới để săn bắt thú, vẻ mặt hớn hở, niềm vui dạt dào, rồi lớn tiếng chú nguyện:


VƯỢN BUỒN RƠI LỆ

Vào một buổi chiều cuối xuân, một đội kỵ binh rực rỡ trong áo giáp, mũ và nón, hành quân với tốc độ nhanh như chớp lướt nhẹ qua cánh đồng.

Kế tiếp sau đội kỵ binh là một số vị đại tướng quân mình mang kiếm và đeo kích. Tiếp theo sau nữa là một cỗ xe sang trọng được trang hoàng rực rỡ và tráng lệ. Người đang ngồi trong xe đó là Sở Trang Vương. Mỗi năm, Sở Trang Vương tổ chức đi săn một lần với mục đích tìm niềm vui sau một năm trời vất vả trong công việc triều chính.

NAI MẸ THƯƠNG CON ĐỨT RUỘT

Ban mai, rừng núi hoang vu chìm trong êm ả, vầng hồng chiếu sáng khắp muôn nơi, từng dãy núi rực rỡ trong ánh hồng, một dòng suối nhỏ nước rì rào tuôn chảy, cảnh vật tràn ngập sức sống vui tươi.

Bất chợt xuất hiện một bóng người phi nhẹ qua dòng suối nhỏ rồi dừng lại trên một bãi cỏ một hồi lâu. Người này quan sát một vòng cảnh tượng hoang vu xung quanh trong lặng lẽ, hình như đang tìm kiếm một cái gì đó. Bóng dáng người này thấp thoáng qua hình ảnh vành tai lớn, mày kiếm mắt hùm, đầu quấn khăn anh hùng, tay trái cầm cành cung, bên hông phải đeo lủng lẳng một túi đựng mũi tên. Nét mặt hồng hào, tinh thần quắc thước, khí khái hiên ngang, bệ vệ. Chàng ta là Hứa Chân Quân, một người rất mực yêu thích phong cảnh tự nhiên, nhất là đối với việc săn bắn. Đứng đợi một hồi lâu, chàng ta bất chợt nhìn thấy một chú nai con từ trong rừng vắng nhảy ra.